Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận thông tin pháp luật
Ngày 4/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội thảo luận tại tổ, đóng góp ý kiến vào dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
Đại biểu Siu Hương (đoàn Gia Lai) cho biết dự thảo Luật và dự thảo Nghị định đã bổ sung nội dung ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo trong phổ biến, giáo dục pháp luật.
Đây là một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo Luật, phù hợp với chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia và yêu cầu đổi mới phương thức phổ biến pháp luật theo hướng hiện đại, tăng khả năng tiếp cận thông tin pháp luật của người dân và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, theo đại biểu Siu Hương, các quy định về nội dung trên vẫn còn mang tính định hướng, chủ yếu xác định công nghệ số và trí tuệ nhân tạo là phương thức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật mà chưa quy định đầy đủ các nguyên tắc quản lý, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế vận hành cũng như trách nhiệm của các cơ quan trong việc xây dựng, quản lý, cập nhật và khai thác các nền tảng số.
“Do đó, trong quá trình triển khai có thể phát sinh tình trạng mỗi bộ, ngành, địa phương xây dựng các hệ thống riêng, thiếu sự liên thông, đồng bộ về dữ liệu, tiêu chuẩn kỹ thuật và nội dung thông tin pháp luật, ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi toàn quốc”, đại biểu Siu Hương phân tích.
Nữ đại biểu Quốc hội đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định theo hướng khuyến khích xây dựng các nền tảng số dùng chung trên phạm vi toàn quốc, bảo đảm thống nhất về cơ sở dữ liệu, nội dung phổ biến và tiêu chuẩn kỹ thuật. Đồng thời, hạn chế việc các bộ, ngành, địa phương đầu tư phát triển các phần mềm riêng lẻ, trùng lặp chức năng, gây lãng phí nguồn lực.
Bà Siu Hương cho rằng cần quy định rõ việc số hóa, công khai các tài liệu pháp luật dưới dạng truyền thông hiện đại (Infographic, Video clip ngắn, Podcast bản tin pháp luật, tài liệu hỏi - đáp điện tử); tích hợp kho dữ liệu các phiên tòa giả định, các bản án, quyết định kiểm sát có tính giáo dục cao và các án lệ đã ban hành để phục vụ công tác tuyên truyền trực tuyến trên cổng thông tin điện tử, các nền tảng số và mạng xã hội chính thống. Qua đó, vừa nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận thông tin pháp luật chính thống, đầy đủ và kịp thời.
Đề nghị xây dựng bộ tiêu chí chung đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Thống nhất với chủ trương của dự thảo Luật về việc đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, tuy nhiên, đại biểu Siu Hương cho rằng các quy định về đánh giá kết quả phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn mang tính nguyên tắc, chưa xác định rõ hệ thống tiêu chí, phương pháp và cơ chế đánh giá thống nhất trên phạm vi cả nước.
Thực tiễn cho thấy, việc đánh giá kết quả phổ biến, giáo dục pháp luật ở nhiều cơ quan, đơn vị chủ yếu vẫn dựa trên các chỉ tiêu về số lượng như số hội nghị, lớp tập huấn, số lượng tài liệu phát hành, số lượt người tham dự hoặc số tin, bài được đăng tải.
Những tiêu chí này chưa đánh giá được chất lượng, mức độ tiếp cận và hiệu quả thực tế của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với việc nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân.
Dẫn thực tiễn công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính tại tỉnh Gia Lai, đại biểu Siu Hương nhận định nhiều dạng vi phạm của cơ quan hành chính nhà nước như vi phạm trong quản lý đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải quyết khiếu nại hành chính... vẫn tiếp tục phát sinh qua nhiều năm.
Điều đó cho thấy hiệu quả của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu phòng ngừa vi phạm, mặc dù số lượng hoạt động tuyên truyền được tổ chức tương đối nhiều.
Từ phân tích trên, đại biểu Siu Hương đề nghị bổ sung quy định giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng định lượng và có khả năng đo lường được. Trong đó, có thể xem xét các tiêu chí như: mức độ tiếp cận pháp luật của người dân; tỷ lệ chấp hành pháp luật sau tuyên truyền; tỷ lệ vi phạm pháp luật trong từng lĩnh vực; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục hành chính; hiệu quả ứng dụng công nghệ số trong phổ biến, giáo dục pháp luật và kết quả khắc phục các vi phạm đã được cơ quan có thẩm quyền kiến nghị.
Bên cạnh đó, cần quy định cơ chế khai thác kết quả từ các kiến nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát; bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là những căn cứ khách quan phản ánh các lĩnh vực còn tồn tại nhiều vi phạm, từ đó giúp cơ quan quản lý nhà nước điều chỉnh nội dung, hình thức và đối tượng tuyên truyền pháp luật phù hợp với yêu cầu thực tiễn.