Chăn trâu cắt cỏ và những mùa Tết không quay lại

Chúng tôi biết Tết sắp đến không phải vì tờ lịch trên tường, mà vì người lớn bắt đầu lo lắng nhiều hơn bình thường. Những buổi chiều, cha đứng ngoài hiên, nhìn về phía cánh đồng đã gặt xong, trơ gốc rạ, không nói gì. Mẹ nhắc đi nhắc lại chuyện nợ ai món gì, đi đòi tiền các mối nợ để lo sắm tết. Rồi chuyện gà trống để cúng, lá dong gói bánh, nồi quân dụng lớn của nhà ai đủ để luộc hai chục chiếc bánh chưng dài... Còn lũ trẻ chúng tôi, chỉ hiểu một điều rất rõ, nếu không lo đủ cỏ cho trâu ăn mấy ngày Tết, thì chẳng có chuyện đi chơi.

Nghỉ Tết, vì thế, không hẳn là niềm vui, mà luôn đi kèm điều kiện. Muốn được đi chúc Tết, đi xem hội, đi theo bọn bạn sang làng bên, thì phải lên rừng, ra đồng từ trước đó rất lâu. Phải cắt đủ cỏ, đủ lá, phơi hoặc bó lại để dành. Mùa đông Thái Nguyên rét cắt da, rừng cây khô lá vàng, ruộng thì trơ trụi. Có hôm đi từ sáng sớm, lội qua mấy thửa ruộng lạnh buốt, tay tê dại vì cầm liềm, vẫn chỉ gom được một bó nhỏ.

1(1).jpg

Nhưng chúng tôi vẫn đi, bất kể đồng xa hay đồng gần, đi lên những bờ nương gió hun hút. Vừa đi vừa nghĩ đến Tết. Nghĩ đến mùng một được mặc áo mới, dù áo ấy có thể rộng thùng thình vì được may lớn để mặc liền mạch vài năm. Nghĩ đến việc được chơi đến chiều, rồi mới dắt trâu ra suối uống nước. Nghĩ đến cái cảm giác cả làng như chậm lại, không ai giục giã, không ai phải xuống ruộng lên bờ cấy hái cày bừa.

Ngày giáp Tết, không khí trong nhà đổi khác. Cha tôi đụng thịt lợn với hàng xóm, đánh tiết canh, luộc lòng sốt, làm mâm cơm cúng đầy ắp. Cái việc ấy vừa vui vừa căng thẳng. Vui vì cả năm mới có một lần. Căng thẳng vì phải chia sao cho đều, cho đủ, cho không ai phật ý. Ngoài mâm cỗ cúng, số thịt đụng được mang về, treo lên gác bếp. Khói ám vào từng thớ, mùi rất riêng, chỉ cần ngửi là biết Tết đã đến ngoài rồi.

Mẹ và các chị bắt đầu giã bột, cối đá bên chái nhà. Tiếng chày giã đều đều, vang lên từ sáng đến chiều. Bánh ngải, bánh dợm, những thứ bánh không bán ngoài chợ, chỉ có trong nhà, và chỉ có dịp này. Lá dong được rửa, luộc, xếp ngay ngắn. Gạo nếp được ngâm từ hôm trước. Nồi bánh chưng đặt lên bếp lớn, đêm giao thừa đỏ lửa. Người lớn thức, trẻ con cũng thức. Không ai bảo ai, nhưng ai cũng cố thức lâu hơn mọi ngày, như thể ngủ sớm là bỏ lỡ mất điều gì thiêng liêng lắm.

Nồi thịt đông ăm ắp được bắc ra, chia vào từng chiếc bát chiết yêu, cất vào chạn. Chạn bếp chẳng có gì sang trọng, nhưng ngày Tết giống chiếc nồi Thạch Sanh, đầy ắp của ngon vật lạ theo cách của nghèo khó, đủ để ăn mấy ngày không phải lo. Với bọn trẻ, hấp dẫn nhất vẫn là bánh trái và mứt Tết. Mấy gói kẹo chanh, mứt dừa, mứt gừng, những hạt lạc được bọc bột lăn trắng tinh như trứng chim, thứ gì cũng quý. Chúng tôi chia nhau rất dè sẻn. Ăn chậm. Nhấm nháp. Như thể kéo dài được bao lâu thì Tết sẽ còn ở đó bấy lâu. Niềm vui của Tết, với tôi lúc ấy, rất đơn giản. Được tạm quên sách vở, được thức khuya, được ăn những món thèm suốt cả năm dài. Được cầm những tờ tiền lì xì còn thơm mùi giấy mới, dù biết sẽ sớm bị mẹ giữ hộ. Trong nghèo khó, những điều ấy là hạnh phúc vô vàn.

Nhưng Tết không dài. Mùng ba Tết, buổi chiều, thường là lúc buồn nhất. Buồn rất rõ. Bánh mứt đã vơi. Thịt cũng không còn nhiều. Chè xuân đã ngóc búp đầy nương. Người lớn bắt đầu nói đến chuyện ra đồng, chuyện công việc. Lũ trẻ nhìn nhau, biết rằng ngày mai hoặc ngày kia sẽ phải dắt trâu đi chăn, phải quay lại lớp học với sách vở cũ. Buồn nhất là cảm giác những bữa cơm đông đủ sắp hết. Không còn cảnh cả nhà ngồi quây quần, ăn chậm, nói chuyện nhiều. Ai cũng chuẩn bị quay lại nhịp sống thường ngày. Tôi nhớ những buổi chiều mùng ba, trời bảng lảng, gió lạnh, đứng ngoài sân nhìn nắng tắt dần trên bờ rào, trong lòng chỉ ước một điều rất ngây ngô, giá mà được quay lại ngày ba mươi Tết, để vui thêm một lần nữa.

Sau này lớn lên, tôi đi qua rất nhiều cái Tết. Đủ đầy hơn. Ít lo hơn. Nhưng cũng nhanh hơn. Không còn phải cắt cỏ cho trâu, không còn lo cái đói như ngày tháng cũ. Nhưng cũng không còn cảm giác mong ngóng dài ngày, không còn cái rét khiến người ta xích lại gần nhau hơn bên bếp lửa. Những cái Tết thơ ấu ấy, nhìn lại, là quãng đời vất vả. Nhưng đó cũng là ký ức lộng lẫy nhất. Vì trong đó có gia đình còn đủ mặt. Có những bữa cơm không dư thừa nhưng đầm ấm. Có những niềm vui nhỏ nhỏ, nhưng trọn vẹn. Và có một thời, khi Tết chưa phải là kỳ nghỉ, mà là cả một năm của sự đợi chờ...

Xem thêm

Cần hệ sinh thái công nghiệp văn hoá đủ mạnh

Cần hệ sinh thái công nghiệp văn hoá đủ mạnh

(NB&CL) Hà Nội sở hữu một hệ thống nhà hát đa dạng, đội ngũ nghệ sĩ, tác giả, đạo diễn đông đảo cùng kho tàng di sản văn hóa đặc sắc. Thế nhưng, dù giàu tiềm năng, sân khấu Thủ đô vẫn chưa tạo được sức bật để trở thành một động lực của công nghiệp văn hóa. Theo nhiều chuyên gia, điều Hà Nội còn thiếu là một hệ sinh thái đủ mạnh để kết nối các nguồn lực ấy thành chuỗi giá trị bền vững.

Hà Tĩnh khai mạc Liên hoan Dân ca Ví, Giặm năm 2026

Hà Tĩnh khai mạc Liên hoan Dân ca Ví, Giặm năm 2026

(CLO) Liên hoan Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh không chỉ là nơi hội tụ những lời ca, tiếng hát ngọt ngào mà còn là ngày hội của những người yêu di sản, tạo cơ hội để các nghệ nhân, diễn viên giao lưu, học hỏi, trao truyền kinh nghiệm.

Hà Nội ra mắt mô hình thí điểm Nhà văn hóa - Khu thể thao tại xã Phú Xuyên

Hà Nội ra mắt mô hình thí điểm Nhà văn hóa - Khu thể thao tại xã Phú Xuyên

(CLO) Chiều 4/8, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với UBND xã Phú Xuyên tổ chức lễ ra mắt mô hình tổ chức hoạt động tại Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn Vạn Điểm. Đây là mô hình thí điểm đầu tiên trong chương trình đổi mới hoạt động hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở trên địa bàn thành phố.

Đà Nẵng tổ chức Ngày hội tôn vinh di sản mỳ Quảng

Đà Nẵng tổ chức Ngày hội tôn vinh di sản mỳ Quảng

(CLO) Ngày hội tôn vinh mỳ Quảng được tổ chức trong hai ngày 14 và 15/8 tại đình Nại Nam, phường Hòa Cường, với kỳ vọng sẽ trở thành hoạt động thường niên, góp phần xây dựng thương hiệu "Đà Nẵng - Điểm đến của ẩm thực đặc sắc Việt Nam”.

Cỡ chữ bài viết: