Lịch sử dân tộc ở trong lòng người dân
Nói về chiều sâu văn hóa dân gian Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam - GS.TS Lê Hồng Lý cho biết, từ hàng nghìn đời nay, văn hóa dân gian được truyền miệng và thông qua những thực hành hàng ngày của người dân. Ngày này qua ngày khác những phong tục tập quán, những câu ca dao, truyện kể, truyền thuyết, giai thoại, nghi lễ, lễ hội, tế lễ, cúng bái… được lặp đi lặp lại và ăn sâu vào tâm trí mỗi con người. Người dân có thể không biết chữ, không học lịch sử, song những câu chuyện về Hùng Vương, An Dương Vương, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo… được họ biết đến thông qua những lần đi hội, được người biết kể cho người chưa biết, đời này qua đời khác… Cứ như vậy lịch sử dân tộc đi vào lòng người một cách tự nhiên, thuộc lòng.
“Ngày hội người ta không chỉ kể cho nhau nghe về vị thần được thờ, họ còn cùng nhau tổ chức nghi lễ, lễ vật dâng cúng ngon, đẹp, cầu kỳ, khéo léo… Sau những nghi lễ là các sinh hoạt vui chơi, ăn uống cộng cảm của cả cộng đồng trước mặt vị thần của làng mình. Những màn diễn, múa, hát; những cuộc thi, cuộc đua tài vừa có thể nhắc lại những sự kiện mà lúc đương thời vị thần đã dạy dỗ, rèn luyện, hay vui chơi giải trí… Tất cả những cái đó, dần dần trở thành các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống của dân tộc sau này”, GS.TS Lê Hồng Lý cho hay.
Theo Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, văn hóa dân gian đồng hành cùng dân tộc bằng những làn điệu dân ca, ca dao, hò vè, những truyền thuyết về các vị tổ tiên, anh hùng dân tộc để làm nên những chiến thắng oanh liệt. Dù có những giai đoạn, do sự ấu trĩ, nhiều giá trị văn hóa dân gian bị quên lãng, thậm chí bị hủy hoại do quan niệm coi nó là mê tín, dị đoan, lạc hậu... nhưng sức sống bền bỉ của văn hóa dân tộc ẩn sâu trong các loại hình này không bị mất đi để đến khi đổi mới nó được bùng dậy và phát triển mạnh mẽ.
Văn hóa không còn bị định vị "ăn theo"
GS.TS Lê Hồng Lý nhấn mạnh, trong số 12 ngành công nghiệp văn hóa thì có 5 ngành (bao gồm: Thủ công mỹ nghệ, Nghệ thuật biểu diễn, Mỹ thuật, Du lịch văn hóa và Văn hóa ẩm thực) thực sự liên quan đến văn hóa dân gian và nguồn lực văn hóa dân gian đã đem lại cho những ngành này sức mạnh vô cùng to lớn.
“Một ví dụ về lễ hội, theo Sở VHTT&DL tỉnh Lạng Sơn, tỉnh đã đón khoảng 1,5 triệu lượt du khách đến lễ hội đền Kỳ Cùng - Tả Phủ từ ngày 22 đến 27 tháng Giêng năm Bính Ngọ, tăng gần 700.000 lượt so với cùng kỳ năm trước. Tổng thu từ hoạt động dịch vụ trong dịp này ước đạt 1.450 tỷ đồng. Riêng hai ngày cao điểm 26 và 27 tháng Giêng, lễ hội đón khoảng 1,3 triệu lượt khách, doanh thu dịch vụ ước khoảng 1.200 tỷ đồng. Chỉ bằng ví dụ này đã cho thấy vai trò của văn hóa dân gian cho việc phát triển kinh tế xã hội hiện nay như thế nào”, ông Lý nêu dẫn chứng.
Nêu một số khía cạnh cho thấy nguồn lực của văn hóa dân gian đối với phát triển công nghiệp văn hóa, GS.TS Lê Hồng Lý gợi ý, Việt Nam có tới 54 dân tộc anh em gồm nhiều sắc màu văn hóa khác nhau; đất nước ta cũng có hàng vạn danh thắng, hàng vạn di tích văn hóa, lịch sử. Mỗi di tích ấy đều gắn với những câu chuyện, giai thoại, truyền thuyết về những con người, những sự kiện… Theo ông, đây chính là nguồn lực lớn cho ngành du lịch văn hóa, nguồn tư liệu hấp dẫn để thu hút khách du lịch bằng cách kể chuyện khéo léo của mình.
“Với gần một vạn lễ hội dân gian trên khắp cả nước đã cho thấy sự đa dạng và phong phú của loại hình văn hóa dân gian trên đất nước ta. Những tên tuổi lớn như lễ hội Chùa Hương, Yên Tử, đền Hùng, chùa Bà, Bà Chúa Xứ, Tháp Bà Ponaga, Bái Đính, Tràng An... thực sự là một nguồn lực kinh tế vô tận, cho thấy văn hóa không còn ăn theo kinh tế hay chính trị nữa mà đang trở thành một ngành kinh tế thực sự - Kinh tế di sản”.
GS.TS Lê Hồng Lý cũng cho rằng, các hoạt động nghệ thuật biểu diễn của các địa phương thể hiện bản sắc và hấp dẫn du khách có thể đem lại lợi ích kinh tế không nhỏ. Đồng thời, nhóm nghệ thuật nghi lễ cùng các trò diễn, dân ca đang tồn tại trên khắp các vùng trong cả nước sẽ là một tài nguyên văn hóa để các đạo diễn, biên đạo, các nghệ sĩ có thể khai thác vào nhiều sự kiện sân khấu, hoạt động văn hóa, mà điển hình nhất gần đây là thành công của nghệ sĩ Hòa Minzy hay Đức Phúc.
Ngoài ra, làng nghề và sản phẩm của các làng nghề thủ công mỹ nghệ hay ẩm thực Việt Nam cũng hoàn toàn có thể nắm bắt nhịp sống của thời đại để vươn tới góp phần vào phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam.
Theo Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, đúng khi các ngành công nghiệp văn hóa đang có cơ hội phát triển thì Nghị quyết 80-NQ/TW ra đời như một cú hích lớn. “Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị nhìn nhận văn hóa dân gian như nguồn lực cho sự phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay. Cùng với các nghị quyết về văn hóa, gần đây Nghị quyết 68 về kinh tế tư nhân càng làm động lực cho sự phát triển khi các tư nhân tham gia vào việc phát triển văn hóa. Đó là một tín hiệu tốt”, GS.TS Lê Hồng Lý nhìn nhận.
Tuy nhiên, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam lưu ý, quá trình khai thác cũng đặt ra yêu cầu cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, đặc biệt trước tác động của thị trường và hội nhập. Từ đó, vai trò định hướng, quản lý của Nhà nước nhằm phát huy bền vững nguồn lực văn hóa dân gian trong phát triển công nghiệp văn hóa là rất quan trọng.
“Khi tư nhân tham gia vào công nghiệp văn hóa thường đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu, vì vậy, đôi khi văn hóa có thể bị nhìn nhận sai lệch hoặc coi nhẹ. Vì thế, vai trò của nhà nước ở đây với tư cách là người quản lý, giám sát và dẫn dắt sự tham gia này cần được đề cao, tránh xảy ra những vấn đề bất cập là mất đi giá trị của văn hóa truyền thống dân tộc”, GS.TS Lê Hồng Lý chốt lại vấn đề.