Thượng tá, nhà thơ Nguyễn Văn Á là một hiện tượng sáng tạo văn học muộn nhưng đầy nhiệt huyết với đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng. Sinh ra ở làng Văn Giang, xã Sơn Thịnh, huyện Hương Sơn (nay là thôn Đại Thịnh, xã Sơn Tiến) tỉnh Hà Tĩnh, lớn lên giữa những năm tháng đất nước chiến tranh, ông đã trải qua hành trình từ người lính chiến trường Quảng Trị (1971-1973), tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, đến nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia 1977 và bảo vệ biên giới phía Bắc 1978-1980. Suốt 27 năm trong quân ngũ, từ binh nhất đến Thượng tá, rồi chuyển ngành làm Trưởng phòng Truyền thông Tài chính của Thời báo Tài chính Việt Nam (Bộ Tài chính) cho đến khi nghỉ hưu. Những ký ức chiến tranh và kỷ niệm cuộc đời đã được nhà thơ Nguyễn Văn Á dồn góp trên những trang viết của tập truyện ký “Phía Nam sông Bến Hải” và tập thơ “Giọt sương bên cửa sổ”. Năm 2026, ông tiếp tục xuất bản tập thơ “Bóng núi” cùng tập truyện ký “Nơi chiến hào biên giới”.
Với tập thơ “Bóng núi” bao gồm 96 bài thơ, được chia ba phần: Hoài cảm, Xuân đợi, Bóng núi, đã cho thấy giọng điệu thơ Nguyễn Văn Á đã luôn khai tác ba “vỉa quặng” cốt lõi là tinh thần yêu nước, yêu quê hương và tình yêu lứa đôi. Vượt lên khỏi những cảm xúc, suy tư cá nhân, tổng hòa của các bài thơ trong tập đều có chung ý thức bày tỏ cái tôi cá nhân hòa quyện vào dân tộc, ký ức cá nhân trở thành ký ức cộng đồng, và tình yêu đôi lứa luôn được soi sáng bởi ánh lửa chiến tranh cũng như hơi ấm quê hương. Thơ Nguyễn Văn Á có một đặc điểm dễ nhận diện là ngôn từ chất phác, mộc mạc kết hợp với cấu trúc thơ giàu nhạc tính của các thể loại thơ tự do, lục bát, tứ tuyệt đã giúp cho thơ ông có hài hòa, tinh tế, nhuần Việt, đầy sinh khí nhưng tính dự báo, sự tiên lượng về xã hội, thời cuộc cũng khá rõ. Nhất là trong các bài thơ viết về Tổ quốc, quê hương, người lính và tình yêu đều hài hòa, gần sát với đời sống hiện thực. Đây là giá trị cốt lõi giúp thơ của ông có được sự cảm thụ dễ dàng của lớp độc giả trung và cao tuổi, yêu thơ truyền thống.
1. Tinh thần yêu nước và khát vọng cống hiến, dấn thân của tuổi trẻ được thể hiện khá rõ nét trong thơ Nguyễn Văn Á, thậm chí có thể nói là chủ đề trung tâm, là đường dây văn học xuyên suốt tạo nên tinh thần chung của tác phẩm. Đó không phải là những khẩu hiệu suông mà là máu xương, là vết thương “không mảnh đạn” và là trách nhiệm không nguôi với đồng đội, với dân tộc. Ông từng tham gia Chiến dịch Thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm: “Bom đạn đầy trời /Uống nước hố bom/Chôn đồng đội chẳng còn nguyên thi thể/Ba lần bị bom vùi/Máu chảy đầy tai” (Chân dung tự họa). Những chi tiết ấy không được kể để khoe oai mà để khắc sâu nỗi đau mất mát: “Đồng đội tôi sau cuộc chiến tranh/Đứa trở về với đôi nạng gỗ/Đứa trở về trên người nham nhở/Vết sẹo na pan chẳng thể xoá nhoà”.
Chính bởi cùng nhau trải qua bao gian khổ, ác liệt, nên Nguyễn Văn Á luôn đau đáu chăm lo cho đồng đội dù còn sống hay đã hi sinh. Ông vận động xây dựng nhiều công trình tưởng niệm liệt sĩ tại Quảng Trị và sẵn sàng hỗ trợ, thăm hỏi những đồng đội có hoàn cảnh khó khăn, đau yếu vì thương tật. Thơ ông vì thế trở thành chứng nhân lịch sử, nhắc nhở thế hệ sau về giá trị của hòa bình đã đổi bằng sự hi sinh của hàng triệu con người. Thơ viết ở “miền chiến địa” Quảng Trị, nơi mà ông đã có những tháng ngày chiến đấu anh dũng cùng đồng đội, đồng bào thường có sức ám ảnh người đọc như “Đêm Thạch Hãn”, “Đêm Phương Ngạn”, “Thành cổ chiều nay”… Trước dòng Thạch Hãn, nhà thơ rưng rưng suy tưởng: “Các anh nằm đâu trong đáy sông sâu/Một thuở đạn bom giăng đầy Thạch Hãn”. Trước Đền liệt sĩ, ông cảm khái: “Mảnh đất này bao máu chảy, đầu rơi/Đền liệt sĩ về đêm càng vắng vẻ/Ánh đèn đường lặng lẽ thức thâu đêm/Cùng người lính thắp lên niềm kiêu hãnh”.
Điểm nhấn của cả tập là tổ khúc thơ “Ta lại hát bài ca đất nước” dài 146 câu, 1.054 từ với âm hưởng sử thi được cấu tứ chặt chẽ về thi pháp. Dù ngôn ngữ thơ vẫn mang nét đặc trưng của Nguyễn Văn Á là trực diện, tả thực và câu từ mộc mạc, song nhà thơ đã kể một câu chuyện súc tích, lắng đọng về đất nước từ trong khói lửa chiến tranh cho đến giai đoạn hòa bình, hội nhập. Ông luôn tin tưởng vào tinh thần nhân nghĩa của dân tộc và bày tỏ: “Đất nước còn nghèo/Bao đứa trẻ cơm chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc/Bao trẻ em nghèo đang đói chữ”, nhưng theo Nguyễn Văn Á, người Việt Nam vẫn: “Sẵn sàng/Hạt gạo cắn đôi/Bát cơm sẻ nửa/Nhiễu điều phủ lấy giá gương”. Và rồi nhà thơ như reo lên với chính mình, như để khẳng định một niềm tin: “Vẻ vang thay hai tiếng Việt Nam / Ta tự hào là công dân đất nước!”.
2. Nếu yêu nước là khát vọng lớn lao thì yêu quê hương là mạch cảm xúc chủ đạo trong “Bóng núi” với nhiều thi ảnh, thi tứ ấn tượng. Bốn mùa quê hương hiện lên trong thơ ông thật đẹp và bình yên với những hoa gạo đỏ tháng Ba, hoa bưởi trắng thơm trong sương sớm, hoa cải vàng bãi ruộng, triền sông… cùng những hiện tượng thời tiết đặc trưng của miền Bắc Trung Bộ như gió Lào nắng cháy, mưa phùn, heo may… đều neo trong ký ức của Nguyễn Văn Á và thành lời thơ khẳng định, quê hương là “bóng núi” che chở, là nơi lưu giữ bản sắc dân tộc.
Bởi như ông bộc bạch “Tôi sinh ra sau luỹ tre làng/ bước vào đời những tháng năm thiếu mẹ/ cảnh gà trống nuôi con/ tôi thành người nhặt sạn/ sàng lọc cuộc đời tìm kế sinh nhai”. Quê hương Hà Tĩnh của Nguyễn Văn Á hiện lên qua hình ảnh “tiếng ve gào cháy trưa hè”, “lũ chuồn chuồn trốn chạy cơn giông”, “vành khăn mỏ quạ, áo nâu sồng” của mẹ. Hình tượng người mẹ tảo tần: “Mẹ ngồi bậu cửa chờ con/ Bao nhiêu năm vẫn mỏi mòn ngóng trông/ Mắt nhìn Nam, Bắc, Tây, Đông/ Mà sao bốn đứa vẫn không thấy về?” hoặc “Là vành khăn mỏ quạ, áo nâu sồng/ Mẹ chôn chân giữa bùn lầy rét mướt” (Mẹ tôi). Trong thơ, hình tượng trữ tình của người mẹ hiện lên dung dị mà cụ thể “Mẹ tôi đơn chiếc như vầng trăng côi!”.
Quê hương Quảng Trị của ông là những ký ức đầy tự hào nhưng hoài chứa nỗi đau và niềm tiếc nhớ đồng đội khôn nguôi: “Mấy mươi năm đi biền biệt không về/ Anh ở lại núi sông cùng Quảng Trị/ Làng Phương Ngạn và đền thờ liệt sĩ/ Để mãi còn khắc khoải đến ngàn sau” (Đêm Phương Ngạn). Nguyễn Văn Á yêu quê hương, yêu nguồn cội và yêu tất cả những giá trị mà tình đất, tình người đã bồi đắp cho ông một bản lĩnh của người lính trong chiến tranh, người chiến sĩ văn hóa, tư tưởng trong thời bình. Và bằng những hoạt động tri ân quá khứ, “đền ơn đáp nghĩa” cũng như tri ân bằng những trang văn, tình yêu quê hương trong thơ ông luôn đong đầy và khẳng định suy nghĩ của tác giả rằng, tình yêu quê hương sẽ bồi đắp tinh thần yêu nước tạo động lực quan trọng thúc đẩy con người vượt qua mọi khó khăn để bảo vệ và xây dựng đất nước.
3. Như đã nói ở trên, đề tài tình yêu đôi lứa cũng chiếm nhiều trang thơ trong phần Hoài cảm và Xuân đợi. Tình yêu trong thơ Nguyễn Văn Á không tách rời khỏi chiến tranh và quê hương. Đó là tình yêu thời chiến: “Cái thời anh yêu em/ Mặt đất đầy tiếng súng/ Cái thời ta yêu nhau/ Thức ngọn đèn lay động” (Cái thời ta yêu nhau). Tình yêu ấy trong vắt, dang dở, bị bom đạn và bổn phận cắt ngang, nhưng chính vì thế mà trở nên thiêng liêng: “Anh ném một quả còn/ Vào cái vòng tròn nhỏ/ Nơi tim em bỏ ngỏ/ Đón tình yêu tháng ngày/ Nhưng em ơi chiều nay/ Mùa xuân về gõ cửa/ Trái tim anh lệ ứa/ Ném còn vào hư không” (Ném còn).
Viết về cô gái mình yêu, nhà thơ lột tả cô như “vạt nắng cuối trời”, “cơn gió lạ”, “hoa bưởi”, “hoa cải” – những hình ảnh gần gũi, dung dị nhưng đầy sức ám ảnh. Tình yêu không chỉ là cá nhân mà hòa quyện với tình yêu đất nước khi cô gái ấy là một thanh niên xung phong mở đường Trường Sơn, hy sinh tuổi xuân vì dân tộc, rồi trở về “ngẩn ngơ chiều sương buông” giữa trăm nghìn ánh mắt. Tình yêu đôi lứa trở nên huyền nhiệm vì gắn với bổn phận: “Có bao nhiêu cô gái/ Rung bao nhiêu hồn thơ/ Có bao nhiêu chàng trai/ Lặn vào trong thương nhớ/ Phương trời xa súng nổ/ Thao thiết ‘Đợi anh về’”.
Có thể nói, nhà thơ Nguyễn Văn Á đã khéo léo biến tình yêu lứa đôi thành “bản lề trữ tình” nối quá khứ với hiện tại. Nụ hôn dưới trăng, hương hoa bưởi, ánh đèn dầu lay động… tất cả đều trở thành “giấc mơ hoa” để nhà thơ “gom quá khứ vào đêm”, “thổn thức cùng vầng trăng lẻ”. Tình yêu ấy đẹp vì nhân văn, vì nó không chỉ là cá nhân mà là biểu tượng cho cả một thế hệ đã hy sinh tình riêng vì nghĩa lớn. Câu thơ “vết thương không mảnh đạn” có sức gọi mở cho người đọc liên tưởng đến những nỗi đau hậu chiến mà người lính phải đối mặt. Đó không chỉ là tổn thương thể xác mà là sự ám ảnh tinh thần, là nỗi day dứt với đồng đội nằm lại: “Anh gom quá khứ vào đêm/ Thổn thức cùng vầng trăng lẻ/ Ru em những chiều nắng xế/ Hong mình tím cả hoàng hôn” (Quá khứ).
Tuy nhiên, cùng với điểm mạnh là ngôn từ mộc mạc kết hợp với cấu trúc thơ giàu nhạc tính của các thể loại thơ tự do, lục bát, tứ tuyệt như đã nói ở trên, một số bài thơ còn chưa thực sự dụng công để ngôn ngữ làm ý thơ “tỏa sáng” thậm chí còn thô mộc, thiếu kết cấu để chuyển tải tư duy, hình tượng văn học mà tác giả hướng đến. Nếu có thể đầu tư kỹ lưỡng hơn và mạnh dạn áp dụng nhiều thi pháp mới trong sáng tác, có lẽ “Bóng núi” sẽ tròn vị hơn đối với người đọc. Tuy nhiên trong khuôn khổ của bài viết này, tôi không muốn nêu cụ thể. Tác giả bao giờ cũng là người nắm rõ nhất ưu, khuyết của đứa con tinh thần mình mang nặng đẻ đau nên việc chỉ ra có lẽ là việc không cần thiết và thừa thãi nhất của người làm phê bình.
Và quan trọng hơn cả, văn chương là để thưởng thức như lời của nhà bác học Lê Quý Đôn chứ không phải để phẩm bình khen chê. Tôi cho rằng, tập thơ “Bóng núi” đã thành công khi đem lại những cảm xúc ấm áp và đầy tự hào, thể hiện rõ nét tính triết luận rằng: Quá khứ chiến tranh là nền tảng; quê hương là điểm tựa tinh thần; tình yêu lứa đôi là ngọn lửa sưởi ấm ký ức. Thế là quá đủ!