GDP Việt Nam đang có nguy cơ tụt hậu
Trong Diễn đàn Chính sách tài khóa và Phát triển Việt Nam năm 2022 tổ chức sáng nay (24/11) tại Hà Nội, PGS.TS Phạm Thế Anh, trưởng bộ môn Kinh tế vĩ mô, Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) cho biết: Kinh tế Việt Nam trong 30 năm qua đã tăng trưởng rất ấn tượng, GDP tăng bình quân khoảng 6,6%. Tuy nhiên, tăng trưởng GDP Việt Nam đang có xu hướng giảm dần trong vài năm gần đây.
Toàn cảnh diễn đàn.
10 năm đầu tiên sau Đổi mới (1991 - 2000), GDP Việt Nam tăng trưởng 7,6%/năm, sang 10 năm tiếp theo (2001- 2010), tăng trưởng GDP giảm còn 6,6%/năm và 10 năm gần đây (2011 -2021), GDP đã giảm còn 5,6%/năm.
Về thu nhập bình quân đầu người, cũng có sự tăng trưởng. Tính đến cuối năm 2021, thu nhập bình quân của người Việt đạt khoảng 3.700 USD/người/năm, tăng khoảng 2,4 lần so với 10 năm trước.
Tuy nhiên, PGS.TS Phạm Thế Anh cho rằng, cách tính GDP Việt Nam đang gây ra sự tranh cãi. Bởi lẽ, trong 10 năm, Việt Nam đã 2 lần thay đổi cách tính GDP. Lần đầu vào năm 2013, việc tính lại đã giúp GDP tăng thêm gần 20%. Mới đây nhất, vào năm 2021, Việt Nam lại thay đổi cách tính, và khiến GDP tăng thêm 25% so với cách tính cũ.
“Mặc dù đã thay đổi cách tính, và giúp GDP tăng thêm 1/4, thế nhưng, việc GDP đang có xu hướng giảm dần, kể từ năm 2018, điều này chứng tỏ Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ tụt hậu so với thế giới”, ông Thế Anh nhấn mạnh.
Ông Thế Anh phân tích, với mức thu nhập khoảng 3.700 USD/người/năm, Việt Nam chỉ bằng 17% so người Mỹ, bằng 25% so với Nhật Bản và Hàn Quốc. Như vậy, Việt Nam đang bị tụt hậu khoảng 33 năm so với các nước này.
Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chỉ bằng 40% so với Malaysia, tụt hậu so với nước này khoảng 30 năm, và tụt hậu so với Thái Lan là 9 năm.
“Chúng ta sẽ đuổi kịp họ, nếu Việt Nam giữ được mức tăng trưởng cao. Nhưng rõ ràng, kinh tế Việt Nam đang giảm dần, do các tác động từ bên ngoài và cả nội tại. Như vậy, chúng ta đang có nguy cơ bị tụt hậu, và mất lâu hơn, xa hơn mới đuổi kịp họ”, ông Thế Anh chia sẻ.
Dù vậy, kinh tế Việt Nam vẫn đạt được một số thành tựu lớn, nhất là trong 10 năm qua, như việc kiểm soát lạm phát ở 1 con số, thương mại có thặng dư, đầu tư FDI liên tục tăng, dự trữ ngoại tệ tăng gần 10 lần trong 10 năm...
“Trước năm 2016, Việt Nam luôn trong tình trạng thâm hụt kép về cả thương mại và tài khóa. Nhưng từ năm 2016 tới nay đã khắc phục được, một phần là nhờ các Hiệp định thương mại đã đem lại hiệu quả. Trên thực tế, nếu vẫn cứ duy trì tình trạng thâm hụt thương mại, dẫn đến đồng tiền nội địa mất giá, ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế”, ông Thế Anh nói.
Nợ công có thể tạo ra áp lực trong 1 thập kỷ tới
Dù đạt được một số thành tựu nhất định, thế nhưng, PGS.TS Phạm Thế Anh cho rằng, Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất, có thể tạo ra áp lực trong 1 thập kỷ tới, đó chính là nợ công.
PGS.TS Phạm Thế Anh, trưởng bộ môn Kinh tế vĩ mô, Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU)
“Gánh nặng của kinh tế Việt Nam chính là nợ công. Nếu chúng ta tiếp tục thực hiện các dự án khổng lồ, như đường sắt cao tốc Bắc - Nam, hoặc các công trình trọng điểm khác tiêu tốn nhiều tài sản quốc gia, thì nợ công có thể tạo bất ổn”, ông Thế Anh thẳng thắn nhìn nhận.
Phân tích về điều này, ông Thế Anh nói: So với giai đoạn 10 năm trước, nợ công của Việt Nam đã tăng 3,2 lần, từ 1.144 nghìn tỷ đồng lên 3.655 nghìn tỷ đồng.
Nếu trước đây, Việt Nam dành khoảng 12% - 13% thu ngân sách để trả nợ gốc và lãi phát sinh, thì tới năm 2021, Việt Nam phải giành 21% - 22% thu ngân sách, tương đương khoảng 1/5 tài sản quốc gia để chi trả nợ, đây chính là một áp lực không hề nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam.
Theo PGS. TS Phạm Thế Anh, về hình thức thì tỷ lệ nợ công/GDP có xu hướng giảm, tuy nhiên tỷ lệ nợ công/thu NSNN lại tăng. Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ trên số Ngân sách Nhà nước (NSNN) thu được cũng theo đó mà tăng nhanh. So sánh với các nước trong khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam là khá cao so với ASEAN-5.
“Về hình thức, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam có vẻ vẫn thấp và trong tầm kiểm soát, tuy nhiên đó là do Việt Nam tính lại GDP và thực hiện cách tính ‘không giống ai’ này bắt đầu từ năm 2021, còn về bản chất con số nợ công thì vẫn không thay đổi, vẫn rất cao”, ông Anh nói.
Bên cạnh thách thức về nợ công, thì các chính sách tiền tệ còn nặng về can thiệp hành chính, đồng thời sự thiếu hụt lao động có chất lượng cao cũng đang cản trở sự bứt phá của nền kinh tế Việt Nam.
Ông Phạm Thế Anh cũng nhấn mạnh, mục tiêu cao nhất của chính sách tài khóa vẫn phải là đảm bảo tính bền vững của nợ công với các biện pháp đi kèm như: ổn định quy mô nợ công theo khả năng thu thuế, kiểm soát nghĩa vụ nợ/thu ngân sách, cải thiện cơ cấu chi ngân sách theo hướng giảm tiêu dùng tăng chi đầu tư phát triển, thu ngân sách cần giảm dựa vào các nguồn thu kém bền vững, tránh phát sinh những loại phí – lệ phí mới.
“Thêm vào đó, chính sách tài khóa nên theo hướng nghịch chu kỳ, tạo đệm tài khóa trong thời kỳ khó khăn”, vị chuyên gia kinh tế cho biết.