Tóm lại là một đại đội con trai toàn đực rựa. Khao khát lớn nhất là được về quê. Khao khát thứ hai là được nhìn thấy bóng dáng của một mái tóc dài. Trên căng ấy, chúng tôi đã sống những ngày dài chờ đợi được về Bắc, mong được giải ngũ sống một cuộc sống bình thường sau chiến tranh mà không được vì chúng tôi còn phải tiếp tục trực chiến.
Tại sao phải trực chiến?
Chuyện ấy là sự trù liệu của Trung ương, nhưng mỗi người lính chúng tôi cũng đều hiểu rằng, vẫn còn khả năng kẻ thù xâm lược cũ quay lại, bọn phản động trỗi dậy, và những kẻ thù mới xuất hiện. Và thực tế đã diễn ra đúng như vậy. Sau kháng chiến chống Mỹ, chúng tôi còn phải đi tiếp hai cuộc chiến tranh biên giới nữa.
Những người lính bộ binh luôn ở đầu mũi tên hòn đạn, sau 30/4, dần dần được giải ngũ, thay quân. Còn chúng tôi, những người lính kỹ thuật, có lẽ do đào tạo lâu hơn thì không.
Trên bầu trời bình lặng mà mọi người chỉ thấy những ráng chiều vàng, những bình minh đỏ lựng, những khoảng trời xanh bất tuyệt bay qua đám mây bông; thì với chúng tôi, bầu trời không bao giờ bình lặng, bầu trời luôn có những mối nguy rình rập. Các đơn vị ra-đa trong cả nước nối sóng với nhau ngày đêm không nghỉ, đan kín từng ô trời trên đất liền, trên biển, xa ngoài biên giới hàng trăm km để cảnh giới, phát hiện máy bay địch từ xa và dẫn đường cho máy bay ta. Người lính ra-đa được coi là anh lính canh trời hay mắt thần của Tổ quốc, an ninh không phận… Với người lính nói chung, thời bình cũng như thời chiến, đều phải sẵn sàng chiến đấu. Với người lính ra-đa càng cần cảnh giác cao trong thời bình để tránh những bất ngờ. Mặc dù nhiều tâm tư, xao động, dần dần chúng tôi cũng yên tâm tư tưởng.
***
Chiến dịch Hồ Chí Minh thần tốc đến nỗi, đơn vị chúng tôi có lúc tiến quân quá sự chỉ huy của đơn vị cấp trên trực tiếp, phải nhận sự chỉ huy vượt cấp. Hậu cần thì cứ qua binh trạm hoặc đơn vị bạn, hoặc địa phương để nhận. Càng về sau, càng nghĩ lại, Đại thắng Mùa xuân có được, công tác hậu cần rất đặc biệt và tôi càng thấm thía sự kỳ diệu của chiến tranh nhân dân. Và thấm thía thêm quân dân như cá với nước, ngay cả vùng mới giải phóng.
Ở trên Căng Phan Thiết, chúng tôi thiếu thốn mọi thứ, nếu không có dân, không có địa phương thì không biết sẽ ra sao.
Trước hết là nước ngọt. Dù cả thị xã đang rất khó khăn, xăng dầu hiếm; Nhà máy nước ngọt Phan Thiết vẫn ưu tiên cho đơn vị một tuần một téc nước chở bằng xe GMC (General Motors Corpo-ration). Nước này chỉ dùng để ăn và vệ sinh buổi sáng. Mỗi cán bộ cũng như chiến sĩ chỉ được một hăng-gô đánh răng, rửa mặt. Muốn tắm thì phải xuống biển, qua một mái đồi chừng cây số và không biết từ thời nào, trên bãi cát đầy hoa muống biển tím, sát mép sóng lại có một giếng nước ngọt…
Ngày thường nhớ nhà đã đành, những ngày giáp Tết ruột gan càng cồn cào. Tuy bị cấm nghe nhạc vàng và các bài hát phổ biến dưới chế độ Việt Nam cộng hòa cũ nhưng trung đội này, trung đội khác đâu cũng nghe tiếng cát-xét bài “Xuân này con không về” của Trịnh Lâm Ngân. Và thật khó kìm được nước mắt khi nghe những câu: “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con/Khi thấy mai đào nở vàng bên nương … Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm, mái tranh nghèo không người sửa sang”… Có những cảnh ngộ mà người lính bên này, người lính bên kia đều chia sẻ.
Sau này tôi được biết Trịnh Lâm Ngân là một tên ghép của nhạc sĩ Trần Trịnh, Lâm Đệ, con của một ông chủ hãng băng dĩa và nhạc sĩ Nhật Ngân. Nhật Ngân sau giải phóng vượt biên, bị bắt lại. Ở trại, ông khai tên Nguyễn Văn Hai. Sau có người phát giác ra, cán bộ lãnh đạo của trại, vốn là bộ đội Miền Bắc, nói rằng tôi đã nghe bài hát Xuân này con không về , khuyên ông kể thật chuyện của mình và chấp hành tốt quy chế, hứa sẽ trả tự do sớm. Người cán bộ đó đã giữ lời hứa, không những thế còn cho Nhật Ngân tiền để về quê…
Tết 1975 (Tết đầu tiên sau giải phóng) mặc dù xa Đà Nẵng và Sài Gòn (nơi đại đội chúng tôi trực thuộc), không nhận được nhu yếu phẩm kịp thời nhưng nhân dân quanh vùng đã dắt bò lợn, bánh tét... đến cho bộ đội Miền Bắc nhiều quá, đến mức phải trả lại. Các tay lính Hà Tây và các tỉnh Bắc Bộ vốn thạo nghề nấu nướng thì được giao việc giết mổ, chế biến. Mấy anh lính sinh viên thì chỉ để sai vặt. Đầu tiên bị phân vào đội giã giò. Chúng tôi phải giã mấy ngày, thịt bò thì dai, bại hết cả tay không bao giờ quên được. Một hôm được phân việc làm ruột lợn. Khốn nỗi, tôi chưa bao giờ từng làm việc này nên ruột già, ruột non xóc muối đánh sạch tinh, trắng bóc. Vừa đem khoe mình làm sạch thì cậu Chất chửi cho một trận, đuổi đánh khắp sân bay vì làm thế hỏng mất cỗ lòng mà buổi trưa nay định đánh chén!
Sáng Mồng Một, sau khi chào cờ, bỗng đâu vang lên một tràng liên thanh. Đó cũng là sự “chuẩn bị” của cánh lính Hà Tây từ nhiều ngày trước: Kiếm đạn, sửa khẩu đại liên gắn trên xe M113 nằm chỏng chơ ở một góc sân bay. Súng đạn hồi đó còn vương vãi khắp nơi. Riêng tôi cũng nhặt được 6 khẩu vừa côn bát (băng đạn 8 viên), côn đu (12 viên), súng lục (6 viên – côn quay) giấu kín một chỗ, thỉnh thoảng trốn ra khe núi tập bắn.
Nghe tiếng súng, lòng tôi chộn rộn liền chạy vào giá súng xách AK hướng về phía trời bắc kéo hết một băng thay cho tiếng pháo. Tôi tưởng mình là người đầu tiên, nhưng đâu phải. Khắp nơi đều vang lên tiếng AK đanh giòn như những tràng pháo hân hoan mừng chiến thắng. Bao nhiêu nỗi niềm của người lính được xả theo băng đạn… Chính anh Đại đội phó Sĩ, ngày thường rất nghiêm trong việc kiểm tra chấp hành quân phong, quân kỷ, chửi lính như điên, cũng rút khẩu súng ngắn K54 bắn hết băng này đến băng khác, vừa bắn vừa gọi: “Anh em ơi, nổ pháo mừng Tết Giải phóng thôi”…
Tết đó, chúng tôi còn được Tỉnh đội Bình Thuận cho bao nhiêu thuốc lá Ruby Queen hàng Quân tiếp vụ hạng nhất…
Không ai biết Tết đó chúng tôi đã phạm vào những quy định cấp trên. Vì chúng tôi ở biệt lập. Vì cán bộ cũng đồng lòng giấu kín. Trong đời, có những cuộc xé rào lại là cuộc vui nhớ mãi…