Cơ duyên đến với nghề nuôi chồn hương của ông Nguyên bắt đầu trong chuyến tham quan tại Đắk Lắk vào năm 2010. Nhận thấy mô hình nuôi chồn phát triển tốt, đặc biệt là giá trị kinh tế cao từ sản phẩm cà phê chồn nên ông quyết định mua vài cặp giống về nuôi thử nghiệm.
Tuy nhiên, dù đã học hỏi mô hình và tham khảo rất nhiều tài liệu để áp dụng vào thực tế song nhiều năm đầu ông nếm không ít đắng cay do liên tục bị thất bại.
Chia sẻ với PV, ông Nguyên cho biết: “Sau nhiều năm mày mò nghiên cứu, tôi mới có quy trình chuẩn áp dụng riêng cho trang trại của mình. Bởi làm theo mô hình các trang trại khác đều không mang lại hiệu quả, con giống bị chết hoặc không sinh sản được. Riêng chuồng trại, tôi đã ba lần đập cũ, xây mới với số tiền đầu tư chuồng cả tỉ đồng.
Sau quá trình mày mò mới biết chồn hương là loài thú hoang dã thuộc họ cầy, nổi tiếng với túi xạ hương quý trên bụng con đực. Đây là động vật ăn tạp hoạt động về đêm, hay sống riêng lẻ nên rất hung dữ, hay cắn nhau nếu nuôi nhốt chung nên mỗi con phải có một lồng riêng”.
Sau 15 năm bén duyên với nghề, ông Nguyên đã xây dựng cho mình trang trại khép kín, hiệu quả với hơn 300 con chồn hương, trở thành một trong những trang trại nuôi chồn hương lớn nhất tại khu vực Tây Gia Lai.
Theo đó, hệ thống chuồng trại được xây dựng khang trang, bố trí thành từng ô hình vuông, mỗi ô từ 1-3 con tùy theo từng lứa chồn khác nhau. Mùa sinh sản, chồn hương thường được ghép đôi với nhau. Trung bình mỗi năm sẽ sinh sản hai lứa, mỗi lứa từ 2-5 con.
Theo ông Nguyên, khí hậu Pleiku rất phù hợp cho chồn sinh trưởng, nguồn thức ăn như chuối dễ tìm, góp phần giảm chi phí nuôi dưỡng. Để phòng ngừa dịch bệnh, ông đã đầu tư trang thiết bị thú y và mỗi năm chi hơn 100 triệu đồng mua vắc-xin do Mỹ sản xuất để tiêm phòng cho đàn chồn.
Bình quân một năm, trang trại gia đình ông xuất bán khoảng 200 con chồn hương thương phẩm và chồn hương giống. Theo đó, chồn hương được bán giống có giá trị rất cao, từ 8-10 triệu đồng/cặp; mỗi kg thương phẩm có giá từ 1,4 đến 1,6 triệu đồng/kg.
Không chỉ dừng lại ở việc bán chồn giống và thương phẩm, ông Nguyên còn là người đầu tiên tạo ra sản phẩm cà phê chồn tại Pleiku. Vào mùa cà phê chín, ông trực tiếp hái những quả cà phê chín mọng chia vào từng ô chuồng cho chồn ăn.
Chồn hương khá kén ăn quả cà phê, chỉ lựa những trái chín để ăn; một số con còn không ăn cà phê nên sản lượng cà phê chồn thu hàng năm rất ít. Đặc sản cà phê chồn được thu gom, ủ và phơi khô trước khi sơ chế thành phẩm. Để có được hạt cà phê chồn đúng chuẩn, từ khâu thu hái từng quả chín, đến khi cho chồn ăn và thu gom, sơ chế rất công phu.
“Cà phê chồn không thể làm vội được. Từ khâu chọn quả chín, theo dõi từng con ăn đến lúc nhặt, làm sạch và ủ hạt đều phải làm kỹ. Chỉ cần sơ suất một công đoạn là ảnh hưởng ngay đến chất lượng ngay. Mỗi vụ cà phê, tôi sản xuất được 300-400 kg cà phê chồn, chủ yếu cung cấp cho các mối quen.
Giá bán trên thị trường hiện dao động 2-2,5 triệu đồng/kg, cao hơn nhiều so với cà phê thông thường. Nhờ enzyme đặc biệt trong dạ dày con chồn, hạt cà phê được lên men tự nhiên khiến cà phê chồn có vị thơm nồng, dịu nhẹ khác hẳn cà phê thông thường", ông Nguyên chia sẻ.
Theo ông Nguyên, để nuôi chồn hương phải có đầy đủ giấy phép kinh doanh, môi trường, thú ý, giấy phép kiểm lâm... và mã số trang trại đối với động vật hoang dã thuộc nhóm IIB. Hiện toàn bộ đàn chồn của ông đều được cơ quan chuyên môn cấp giấy chứng nhận theo đúng quy định.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, căn cứ quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm, loài động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, cầy vòi hương (chồn hương) thuộc danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB, được phép gây nuôi thương mại.
Trước khi nuôi, chủ cơ sở nuôi cần nộp hồ sơ đăng ký mã số cơ sở nuôi, cơ sở trồng loài động vật, thực vật thuộc phụ lục CITES đến Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia.