Kinh tế tăng tốc, nhu cầu sử dụng điện tăng cao
Những ngày gần đây, nhu cầu điện trên cả nước liên tục tăng cao, nhiều thời điểm phụ tải điện quốc gia lập những mốc kỷ lục mới. Điều đó phản ánh một thực tế rất rõ, khi nền kinh tế tăng tốc, khi sản xuất được mở rộng, khi đời sống người dân ngày càng được nâng cao thì nhu cầu năng lượng cũng gia tăng tương ứng.
Tại Hội thảo “Chuyển dịch năng lượng - Động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số” do báo Lao Động tổ chức vào ngày 9/6, ông Trịnh Quốc Vũ, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, Bộ Công Thương cho biết: Việc cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng.
Theo ông, Việt Nam đã cơ bản đáp ứng nhu cầu điện và năng lượng cho phát triển kinh tế trong giai đoạn vừa qua. Tuy nhiên, ngành năng lượng vẫn còn không ít hạn chế khi các nguồn cung trong nước ngày càng khó đáp ứng nhu cầu tăng cao, buộc Việt Nam phải gia tăng nhập khẩu năng lượng sơ cấp. Điều này đặt ra nhiều thách thức đối với mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong những năm tới.
Trên thực tế, Nghị quyết số 70-NQ/TW (Nghị quyết 70) của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định tầm quan trọng của ngành năng lượng đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Trong đó, Nghị quyết 70 yêu cầu phát triển đồng bộ các loại hình năng lượng, ưu tiên năng lượng tái tạo, năng lượng mới và từng bước giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội với chất lượng ngày càng được cải thiện.
“Việc triển khai hiệu quả các giải pháp phát triển năng lượng, điện lực trong giai đoạn tới đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số”, ông Vũ nói.
Vì vậy, để triển khai hiệu quả các mục tiêu đã đề ra, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Phó Cục trưởng Cục Điện lực cho biết, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách để tạo hành lang thông thoáng trong việc triển khai và thực hiện các dự án điện.
Đồng thời, thường xuyên đôn đốc các địa phương hỗ trợ, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư triển khai dự án trên địa bàn, bảo đảm tiến độ đề ra.
Đặc biệt, ngành điện lực sẽ đa dạng hóa các nguồn vốn, các hình thức huy động vốn (vốn tín dụng ngân hàng, vốn viện trợ, thị trường chứng khoán, ...), thu hút có hiệu quả các nguồn vốn trong và ngoài nước; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào ngành điện.
“Với những giải pháp đồng bộ từ khung pháp lý trong phát triển điện lực và triển khai đầu tư dự án, tôi tin rằng các Nhà đầu tư sẽ có đủ khung pháp lý để triển khai các dự án điện nói chung, các dự án năng lượng tái tạo nói riêng để hiện thực định hướng chiến lược phát triển năng lượng của Việt Nam bền vững”, ông nói.
Nghịch lý của ngành năng lượng Việt Nam
Trong khi đó, TS Nguyễn Xuân Quang, Viện Công nghệ Năng lượng, Đại học Bách khoa Hà Nội cho hay, Việt Nam có nhiều lợi thế về tiềm năng năng lượng mặt trời, gió, thủy điện và sinh khối, nước ta đã trải qua giai đoạn phát triển mạnh mẽ điện tái tạo từ năm 2019 đến 2021.
Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch đang gặp phải nhiều nút thắt mang tính hệ thống, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và thu hút đầu tư.
Ông Nguyễn Xuân Quang phân tích: Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay đó là hạ tầng lưới điện chưa đồng bộ và quá tải nghiêm trọng. Theo ông, hệ thống lưới điện Việt Nam được thiết kế chủ yếu cho các nguồn điện truyền thống tập trung, nên chưa sẵn sàng tiếp nhận nguồn năng lượng tái tạo phân tán và có tính biến động cao.
Tính đến cuối năm 2025, tổng công suất nguồn điện toàn quốc đạt khoảng 87.600 - 95.000 MW, trong đó năng lượng tái tạo (không kể thủy điện lớn) chiếm tỷ lệ 27-28%, tương đương hơn 24.000 MW.
Nhiều tỉnh miền Trung như Ninh Thuận (cũ), Bình Thuận (cũ) thường xuyên phải cắt giảm sản lượng năng lượng tái tạo từ 20-30%, thậm chí lên đến 50-60% trong một số khung giờ hoặc khi thời tiết thay đổi đột ngột. Điển hình, năm 2020 đã có khoảng 364 GWh điện mặt trời bị cắt giảm, tình trạng này vẫn tiếp diễn đến nay.
“Điều này tạo ra một nghịch lý là Việt Nam có nguồn điện sạch nhưng không thể truyền tải hết lên hệ thống gây lãng phí nguồn lực và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư”, ông nói.
Bên cạnh đó, cơ chế giá điện chưa phù hợp và thiếu động lực thị trường. Ông Quang cho rằng, đây là vấn đề rất nhạy cảm đối với ngành điện.
Trong nhiều năm qua, giá điện luôn được xem xét dưới góc độ hỗ trợ sản xuất và kiểm soát lạm phát. EVN đã từng ghi nhận khoản lỗ lũy kế khoảng 38.680 tỷ đồng vào cuối năm 2024 sau thời gian nhà nước có nhiều chính sách duy trì giá điện trong điều kiện thế giới có nhiều biến động về giá nhiên liệu.
“Con số này cho thấy bài toán giá điện không thể chỉ nhìn từ góc độ kiềm chế lạm phát, mà còn phải nhìn từ góc độ an ninh năng lượng và khả năng tài chính của hệ thống điện”, ông Quang nói.
Cũng theo ông Quang, quá trình chuyển dịch năng lượng đòi hỏi nguồn vốn đầu tư khổng lồ. Trong khi đó, giá điện bán lẻ bình quân của Việt Nam hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực.
“Nếu giá điện không phản ánh đầy đủ chi phí đầu tư và vận hành hệ thống, khả năng thu hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực năng lượng sẽ gặp nhiều khó khăn”, ông nhấn mạnh.
Một hạn chế quan trọng khác là việc áp dụng giá điện thống nhất trên toàn quốc. Với lãnh thổ dài, nguồn tái tạo tập trung chủ yếu ở miền Trung và miền Nam, trong khi trung tâm tiêu thụ lớn nằm ở miền Bắc và các đô thị miền Nam, cơ chế giá chung không phản ánh đúng chi phí truyền tải xa, tổn thất điện năng (khoảng 6-8%) và mức độ tắc nghẽn lưới.
Điều này dẫn đến bù chéo giữa các vùng, thiếu tín hiệu giá để khuyến khích đầu tư hiệu quả và làm tăng tình trạng cắt giảm sản lượng cục bộ.
Trước những khó khăn nêu trên, TS Nguyễn Xuân Quang đưa ra một số kiến nghị, đó là: Đẩy nhanh đầu tư hạ tầng lưới điện và hệ thống lưu trữ năng lượng theo hình thức đối tác công tư, đồng thời hoàn thiện Luật Điện lực theo hướng thị trường hóa, rút ngắn thủ tục hành chính; Ưu tiên phát triển nhiệt điện khí và các nguồn linh hoạt làm cầu nối chuyển tiếp.
Ngoài ra, ông đề nghị cải cách cơ chế giá điện theo hướng thị trường, áp dụng giá hai thành phần, giá theo vị trí và theo khung giờ sử dụng, đồng thời có chính sách hỗ trợ phù hợp cho vùng sâu, vùng xa.
Đặc biệt, cần tăng cường sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghệ cao và giá trị gia tăng. Quy hoạch đồng bộ giữa ngành điện và giao thông để ứng phó với nhu cầu điện tăng từ phương tiện điện hóa.
“Với tiềm năng phong phú và vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trung tâm năng lượng tái tạo của khu vực Đông Nam Á”, ông nhấn mạnh.