Hoàn thiện hạ tầng và cơ chế giám sát môi trường
Theo số liệu thống kê, hiện cả nước có 324 khu công nghiệp đang hoạt động với tỷ lệ lấp đầy đạt gần 80%. Cùng với sự gia tăng của hoạt động sản xuất, yêu cầu về quản lý môi trường, kiểm soát nguồn thải và sử dụng tài nguyên hiệu quả cũng ngày càng được đặt ra cao hơn.
Trong bối cảnh phát triển bền vững trở thành xu hướng tất yếu, nhiều khu công nghiệp đang từng bước chuyển đổi theo hướng xanh và sinh thái. Một số đơn vị tiên phong đã triển khai các giải pháp như sử dụng năng lượng tái tạo, tuần hoàn tài nguyên, tăng diện tích cây xanh và ứng dụng công nghệ trong quản lý môi trường.
Cùng với đó, nhiều khu công nghiệp truyền thống cũng đang nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và hoàn thiện các quy trình quản lý nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao từ nhà đầu tư, đối tác và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Dù lựa chọn lộ trình khác nhau, nền tảng của quá trình chuyển đổi vẫn là việc kiểm soát hiệu quả các nguồn phát thải và nâng cao năng lực quản lý môi trường trong quá trình vận hành.
Luật Bảo vệ môi trường 2020 cùng các nghị định hướng dẫn đã quy định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp trong việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải tập trung, tổ chức quan trắc môi trường và kiểm soát các nguồn thải phát sinh.
Trên cơ sở đó, nhiều chủ đầu tư KCN đã đầu tư đồng bộ hạ tầng môi trường, từ hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung đến các khu vực lưu giữ, trung chuyển chất thải theo quy định.
Hệ thống xử lý nước thải tập trung tại một KCN
Trong các nguồn phát thải, nước thải là lĩnh vực được theo dõi thường xuyên do có khả năng tác động trực tiếp đến môi trường tiếp nhận. Vì vậy, nhiều KCN đã xây dựng hệ thống thu gom riêng biệt giữa nước mưa và nước thải, vận hành nhà máy xử lý nước thải tập trung và thực hiện quan trắc theo quy định nhằm phục vụ công tác quản lý môi trường.
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), hiện có 298 trong tổng số 324 KCN đang hoạt động đã vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường, tương đương khoảng 92%.
Thực tế cho thấy, dù hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và hạ tầng môi trường tại nhiều KCN được đầu tư đồng bộ, nguy cơ vi phạm vẫn có thể phát sinh nếu doanh nghiệp không tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường hoặc vận hành không đúng quy trình xử lý chất thải.
Tăng cường theo dõi, nâng cao hiệu quả quản lý nguồn thải
Theo các chuyên gia môi trường, chủ đầu tư KCN có trách nhiệm xây dựng và vận hành hạ tầng xử lý tập trung, song không phải lúc nào cũng có thể giám sát trực tiếp mọi hoạt động diễn ra bên trong từng nhà máy. Trong khi đó, một số hành vi vi phạm có thể được thực hiện có chủ đích nhằm né tránh các biện pháp kiểm tra thông thường.
Chính vì vậy, bên cạnh việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật, nhiều KCN cũng thực hiện các biện pháp tăng cường kiểm tra, rà soát, ứng dụng các công cụ giám sát để sớm phát hiện các dấu hiệu bất thường.
Như CĐT KCN Quang Minh, hoạt động lấy mẫu và quan trắc định kỳ được duy trì nhằm đánh giá chất lượng nước thải của doanh nghiệp trước khi đấu nối vào hệ thống xử lý tập trung. Mới đây, trong tháng 5/2026, KCN Quang Minh đã tổ chức lấy mẫu nước thải tại hơn 20 doanh nghiệp đang hoạt động. Kết quả quan trắc là cơ sở để Ban Quản lý KCN và doanh nghiệp rà soát quy trình vận hành, nâng cao hiệu quả kiểm soát nguồn thải và kịp thời xử lý các tồn tại nếu phát sinh.
Bên cạnh đó, CĐT KCN Quang Minh thường xuyên đôn đốc doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường, từ vận hành hệ thống xử lý nước thải, duy trì hồ sơ môi trường đến tuân thủ các quy định về đấu nối và xả thải. Các hành vi đấu nối trái phép, xả thải không đúng quy định hoặc xả trực tiếp nước thải chưa qua xử lý ra môi trường đều sẽ được kiểm tra và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Cũng theo các chuyên gia, hiệu quả quản lý môi trường không nằm ở việc khẳng định sẽ không có vi phạm, mà ở khả năng phát hiện sớm, xử lý kịp thời và ngăn ngừa tái diễn. Trong bối cảnh yêu cầu về phát triển xanh ngày càng cao, năng lực quản lý môi trường của KCN không chỉ được đánh giá qua hạ tầng xử lý hay các báo cáo quan trắc, mà còn ở khả năng kiểm soát thực chất các nguồn phát thải và ứng phó với những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình vận hành.