Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, SME được kỳ vọng trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên, để khu vực này mở rộng quy mô, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh, vốn vẫn là một trong những điểm nghẽn lớn cần được tháo gỡ.
Hàng trăm nghìn tỷ đồng tín dụng ưu đãi
Theo khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, khoảng 60-70% SME gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng. Nguyên nhân khiến SME khó tiếp cận tín dụng trước hết xuất phát từ đặc thù quy mô nhỏ, khiến nhóm doanh nghiệp này thường được ngân hàng đánh giá có mức độ rủi ro tín dụng cao hơn.
Bên cạnh đó, tình hình tài chính và dòng tiền của nhiều SME chưa thực sự minh bạch, ổn định, trong khi hệ thống sổ sách, báo cáo tài chính và quản trị doanh nghiệp còn hạn chế. Điều này khiến ngân hàng phải dành nhiều thời gian, nguồn lực hơn để thẩm định và theo dõi khoản vay, qua đó làm tăng chi phí và rủi ro tín dụng.
Trước khó khăn về vốn của SME, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo hệ thống tín dụng giảm lãi suất, hướng vốn vào đúng đối tượng và các lĩnh vực ưu tiên.
Thực hiện chủ trương này, nhóm ngân hàng Big4 đồng loạt triển khai các chương trình tín dụng quy mô lớn. Cụ thể, Agribank dành 70.000 tỷ đồng cho chương trình tín dụng ưu đãi từ tháng 8/2026 đến năm 2028, với lãi suất thấp hơn 1-2 điểm %/năm so với mức cho vay bình quân cùng kỳ hạn.
Nguồn vốn hướng tới SME, doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh trong các lĩnh vực như nông nghiệp, công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, AI, bán dẫn, chế biến chế tạo và dự án xanh.
Vietcombank, VietinBank và BIDV mỗi ngân hàng dành 50.000 tỷ đồng cho các chương trình tín dụng ưu đãi, chủ yếu hỗ trợ SME và doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực ưu tiên, được xác định là động lực tăng trưởng. Mức lãi suất nhìn chung thấp hơn tối thiểu 1 điểm %/năm so với mức cho vay thông thường cùng kỳ hạn.
Như vậy, riêng 4 ngân hàng Big4 đã công bố các chương trình tín dụng với tổng quy mô khoảng 220.000 tỷ đồng, tập trung vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.
Không chỉ nhóm ngân hàng quốc doanh, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần cũng nhập cuộc. Trong đó, Sacombank giảm lãi suất tới 2 điểm %/năm đối với khách hàng xuất nhập khẩu, đồng thời dành khoảng 10.000-15.000 tỷ đồng cho các chương trình tín dụng ưu đãi đối với lĩnh vực ưu tiên, hộ kinh doanh và doanh nghiệp FDI.
Nam A Bank cũng đưa ra chương trình tín dụng ưu đãi với tổng hạn mức 25.000 tỷ đồng cho các lĩnh vực trọng tâm. Lãi suất thấp hơn 1-1,8 điểm %/năm so với biểu lãi suất niêm yết.
MSB dành 3.000 tỷ đồng cho SME và hộ kinh doanh, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1 điểm %/năm, từ mức 8,5%/năm. BVBank triển khai gói 2.500 tỷ đồng cho SME và hộ kinh doanh, với lãi suất vay ngắn hạn từ 9,7%/năm.
Ngoài ra, LPBank dành 2.000 tỷ đồng cho SME đến hết năm 2026, với lãi suất giảm tối thiểu 1 điểm %/năm. NCB giảm 0,5 điểm %/năm lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp; riêng SME áp dụng mức giảm này cho tất cả kỳ hạn.
Không chỉ là câu chuyện lãi suất
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, giảm lãi suất mới chỉ giải quyết một phần bài toán vốn của SME. Bởi trên thực tế, rào cản lớn nhất không phải lúc nào cũng nằm ở giá vốn, mà còn ở điều kiện để doanh nghiệp có thể tiếp cận khoản vay.
Nhiều SME không sở hữu lượng tài sản cố định đủ lớn để đáp ứng yêu cầu tài sản bảo đảm của ngân hàng, đa phần tài sản đảm bảo được dựa vào bất động sản. Trong khi đó, giá trị kinh tế của doanh nghiệp lại có thể nằm ở đơn hàng, hợp đồng, khoản phải thu, máy móc, dữ liệu khách hàng, quyền sở hữu trí tuệ hoặc uy tín với đối tác. Những tài sản này chưa được định giá và sử dụng đầy đủ trong quy trình cấp tín dụng truyền thống.
Điều này tạo ra khoảng cách giữa “vốn có trong hệ thống” và “vốn doanh nghiệp thực sự tiếp cận được”. Một doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi nhưng thiếu tài sản thế chấp vẫn có thể khó vay, trong khi doanh nghiệp sở hữu nhiều tài sản hữu hình lại có lợi thế hơn trong tiếp cận tín dụng.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, GS.TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội cho rằng, bên cạnh giảm lãi suất, chính sách tín dụng cần từng bước chuyển sang đánh giá doanh nghiệp dựa nhiều hơn vào dòng tiền, khả năng trả nợ và hiệu quả phương án kinh doanh, thay vì quá phụ thuộc vào tài sản bảo đảm.
“Đây là giải pháp phù hợp với xu hướng tài chính hiện đại và tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển”, ông nói.
Ngoài ra, các ngân hàng cần đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ để giảm chi phí quản trị, từ đó có điều kiện điều chỉnh lãi suất theo hướng hợp lý hơn.
“Quan trọng hơn cả là hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, kết nối đầu ra cho sản phẩm. Khi doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi và dòng tiền ổn định thì khả năng tiếp cận nguồn vốn với lãi suất ưu đãi cũng sẽ cao hơn”, ông nhấn mạnh.