Hội họa hiện thực - không chỉ là “vẽ cho giống thật”

(NB&CL) Trong bối cảnh mỹ thuật đang bị bủa vây bởi các trào lưu phá cách, những thử nghiệm thị giác và sự tối giản đến mức cực đoan, hội họa hiện thực không những không biến mất mà vẫn mang trong mình sức sống bền bỉ.
1.jpg
Công chúng xem triển lãm “Một thập niên Hiện thực”.

Giá trị hiện thực - giá trị cá nhân

Tại triển lãm “Một thập niên Hiện thực” ở Hà Nội hồi đầu năm 2026, hơn 10 họa sĩ của nhóm Hiện thực đã giới thiệu tới công chúng 40 bức tranh mới nhất. Các tác phẩm phản ánh đời sống đương đại bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau của hội họa hiện thực, cho thấy sự đa dạng trong tư duy sáng tác và phong cách cá nhân của từng nghệ sĩ.

Trao đổi với Nhà báo và Công luận, Trưởng nhóm họa sĩ Hiện thực Phạm Bình Chương cho rằng, theo quan điểm của anh, “hiện thực” ở đây phải được hiểu là vẽ như thực, vẽ để người xem cảm thấy chạm được vào thực tế, chứ không dừng lại ở chất lượng một bài hình họa màu. Trên thế giới, hội họa hiện thực đã xuất hiện từ lúc loài người biết vẽ cho tới nay, với hệ thống lý thuyết và thực hành vững chắc; trong đó thời kỳ Phục hưng ở châu Âu là giai đoạn cực thịnh của phong cách này.

Tuy nhiên, theo Phạm Bình Chương, ở trong nước, dấu ấn của hội hoạ hiện thực rất mờ nhạt. Phải đến thời kỳ mỹ thuật Đông Dương, các họa sĩ Việt Nam mới được làm quen với hội họa phương Tây, từ những nghiên cứu hình họa, giải phẫu và luật xa gần. Dù vậy, hiện thực trong mỹ thuật thời kỳ này chỉ dừng lại ở mức độ biểu đạt khối, không gian đơn giản. Sau đó, đất nước trải qua hàng chục năm kháng chiến và giai đoạn hậu chiến đầy khó khăn, các họa sĩ không đủ điều kiện và tâm trí để đẩy các kỹ năng sâu hơn. Đến giai đoạn mở cửa, kinh tế thị trường khiến hội họa bước sang một ngã rẽ xa rời hiện thực hơn nữa. Khi nghệ thuật đương đại tràn vào, gần như đã đặt một dấu chấm hết cho khuynh hướng hiện thực tại Việt Nam.

“Nhóm Hiện thực ra đời cuối năm 2014, trong bối cảnh hội họa hiện thực ở Việt Nam chưa bao giờ được coi là một trào lưu chính thức, mà luôn là thiểu số trong dòng chảy nghệ thuật hiện đại. Vẽ hiện thực đòi hỏi kỹ thuật, tính kiên trì, kỷ luật và thời gian hoàn thiện, nên rất ít họa sĩ đi theo con đường này. Dòng tranh hiện thực, do vậy vẫn luôn hiếm trong các triển lãm. Vì thế, có một nhóm cùng chung cách thể hiện tạo động lực rất lớn cho mỗi thành viên”, họa sĩ Phạm Bình Chương chia sẻ.

2(1).jpg
Tác phẩm “Cơn mưa hạ” - Sơn dầu của Phạm Bình Chương.

Sau 10 năm hoạt động, nhóm Hiện thực đã giới thiệu ra công chúng một số lượng tác phẩm khá lớn qua 5 triển lãm chính thức, chưa kể các triển lãm nhóm và các cuộc trưng bày cá nhân. Nhiều thành viên trong nhóm đã đạt được giải thưởng trong nước và quốc tế, có tác phẩm được in trong sách giáo khoa, một số họa sĩ được mời tham gia các triển lãm, workshop giao lưu quốc tế… Với những hoạt động liên tục, nhóm đã gây được sự chú ý, được công chúng đón nhận, qua đó, các họa sĩ trong nhóm đã trưởng thành rất nhiều.
“Dù cùng vẽ hiện thực và cùng một hội nhóm, nhưng 10 năm là quãng thời gian đủ để định hình phong cách cho từng thành viên.

Không phải nhóm Hiện thực có một giá trị riêng nào đó, mà các giá trị lại thuộc về từng cá nhân họa sĩ - khi mỗi người đang kể những câu chuyện riêng của mình bằng lối tả chân thực”, họa sĩ Phạm Bình Chương cho hay.

Giới chuyên môn đánh giá, trong khi Lê Thế Anh, Nguyễn Đinh Duy Quyền với một cách nhìn duy mỹ, đầy mộng mơ và trữ tình, như muốn tìm kiếm một hiện thực hoàn hảo hơn cái thực tại thì Nguyễn Lê Tân, Nguyễn Toán đi theo xu thế hậu hiện đại, từ hiện thực ảnh đến cực thực. Phạm Bình Chương, Mai Duy Minh duy trì hiện thực điển hình, đi thẳng vào đời sống bằng lối kể chuyện bình dị và khúc triết. Lê Cù Thuần, Nguyễn Văn Bảy trở lại cổ điển bằng kỹ thuật nhiều lớp, tinh xảo. Vũ Ngọc Vĩnh tự chọn lối biểu hiện, mang nhiều cảm xúc dữ dội với bút pháp mạnh mẽ. Trịnh Minh Tiến, Lưu Tuyền đại diện cho phong cách hiện thực đương đại. Phạm Minh Đức, Đoàn Văn Tới khai thác vẻ đẹp của đường nét và chất liệu truyền thống, ngả dần sang đồ họa, để có một phong cách hiện thực rất Á Đông.

3.jpg
Tác phẩm “Vượt trội” - Sơn dầu của Trần Trung Thành.

Hội họa không sao chép khô cứng

Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu mỹ thuật Trần Trịnh Nam, trong bối cảnh mỹ thuật hiện thực Việt Nam không có nền tảng vững chắc, trào lưu hiện thực ở Việt Nam phải vượt qua những quan niệm cho rằng tranh hiện thực chỉ là “sao chép, bắt chước thực tại, không biết ẩn giấu những điều muốn nói hay là quá dễ hiểu, thậm chí chẳng có gì để khám phá, để hiểu”.

Đồng quan điểm, họa sĩ Phạm Diệu Hương cũng đặt vấn đề, trong thời đại mà chức năng ghi nhận thế giới ngày càng được chuyển giao cho công nghệ hình ảnh, hội họa hiện thực còn có thể tự biện minh bằng kỹ thuật hay không? Theo nữ họa sĩ, từ khi nhiếp ảnh xuất hiện, hiện thực được xem như một phần lãnh địa mà công nghệ đảm nhiệm. Từ đó, một quan niệm giản lược đã hình thành: hội họa hiện thực bị đồng nhất với năng lực sao chép và giá trị tác phẩm được đo bằng độ chính xác của hình thể, ánh sáng hay chất liệu.

Đi sâu vào một số tác phẩm hội họa hiện thực đương đại, họa sĩ Phạm Diệu Hương cho rằng, cách hiểu như trên đã bỏ qua một khác biệt căn bản: Nếu nhiếp ảnh cố định một cấu trúc thời gian đã hoàn tất, thì hội họa cho phép thời gian được tiếp tục. Khi mô tả hiện thực, hội họa dần rời khỏi chức năng tường thuật để trở thành một hình thức tư duy về cách con người tồn tại. Qua lớp sơn, nhịp bút và độ dày bề mặt, người xem không chỉ tiếp nhận hình ảnh mà phải lần theo quá trình hình ảnh được tạo nên. Một bức tranh hiện thực vận hành như một trường lực thẩm mỹ, nơi ánh sáng, bố cục và chất liệu được tổ chức để làm chậm nhịp nhìn, buộc người xem ở lại với hình ảnh. Khi kỹ thuật trở thành cấu trúc của thời gian, hình ảnh vượt khỏi chức năng sao chép và mở ra một không gian suy tư.
“Hội họa hiện thực không cạnh tranh với công nghệ ở độ chính xác, mà tạo ra những hình thức thời gian, trong đó người xem buộc phải ở lại, trải nghiệm và ý thức về điều kiện tồn tại của mình”, họa sĩ Phạm Diệu Hương phân tích.

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Trần Trịnh Nam cũng cho rằng, tiếp cận hiện thực đòi hỏi người họa sĩ phải có kỹ năng thực hành mô phỏng ngoại vật, nắm bắt ánh sáng, hình khối, bố cục... Nhưng quan trọng hơn, đó không phải là sự trình hiện của một hiện thực “chết cứng” mà đó là một hiện thực đang chuyển động, một hiện thực có hồn, bởi sau màu sắc và toan vẽ là những câu chuyện được kể bằng ngôn ngữ hình ảnh.

4.jpg
Tác phẩm “Khúc nguyện cầu” - Sơn dầu của Lê Thế Anh

Theo ông Nam, nghệ thuật mô phỏng hiện thực vẫn tồn tại và lôi cuốn nhiều nghệ sĩ tham gia, cùng tồn tại song song với những trào lưu nghệ thuật có chiều hướng đối nghịch. Cốt lõi của hiện thực chính là diễn tả cuộc sống nhưng nếu chỉ dừng lại ở bắt chước hiện thực cuộc sống đơn thuần thì hội họa hiện thực không có được sức sống mạnh mẽ như thế.

Liệu những tuyên ngôn, những đả phá, những nỗ lực làm khác của nghệ thuật hiện đại, hậu hiện đại có làm người ta quên lãng chủ nghĩa hiện thực hay không? Câu trả lời ông Nam đưa ra là không.

Theo ông, mỹ thuật hiện thực sẽ tồn tại bởi nghệ thuật luôn luôn bắt đầu bằng một hiện thực được thấy, rồi sau đó theo chiều hướng sáng tác của mình, người nghệ sĩ có thể giảm trừ hay phóng đại hiện thực được thấy đó. Trong nghệ thuật tạo hình đương đại Việt Nam, mỗi xu hướng có cách phát ngôn của riêng mình để biện minh cho sự ra đời, tồn tại của nó. Vì vậy, không thể đem ra so sánh sự hơn thua giữa các đối tượng thuộc những trường phái không giống nhau. Những họa sĩ lấy hiện thực làm căn nền, thông qua thời gian, bút pháp của họ có sự thay đổi nhưng cuộc sống hiện thực vẫn tuôn chảy trong nguồn mạch như chính những giá trị nghệ thuật mà họ đã dày công biểu đạt.

Xem thêm

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh nhà bác học Lê Quý Đôn, lan tỏa giá trị tri thức Việt

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh nhà bác học Lê Quý Đôn, lan tỏa giá trị tri thức Việt

(CLO) Tối 31/7, tại Khu lưu niệm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên), Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp với tỉnh Hưng Yên tổ chức Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026).

Lần đầu tiên Hội An tổ chức lễ hội đèn lồng

Lần đầu tiên Hội An tổ chức lễ hội đèn lồng

(CLO) UBND TP. Đà Nẵng vừa ban hành kế hoạch tổ chức Lễ hội đèn lồng quốc tế Hội An 2026 với chủ đề "Hội An - Sắc màu di sản", đánh dấu lần đầu tiên Hội An có một lễ hội đèn lồng mang tầm quốc tế nhằm quảng bá giá trị văn hóa, nghề thủ công truyền thống và tăng sức hút du lịch.

Làng Văn hóa tổ chức chuỗi hoạt động tôn vinh văn hóa Khmer

Làng Văn hóa tổ chức chuỗi hoạt động tôn vinh văn hóa Khmer

(CLO) Trong tháng 8/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam sẽ tổ chức chuỗi hoạt động với chủ đề "Về miền Tây qua nét văn hóa của đồng bào Khmer", mang đến không gian trải nghiệm đậm bản sắc văn hóa Nam Bộ cùng nhiều chương trình nghệ thuật, tái hiện lễ hội và hoạt động giao lưu hấp dẫn.

‘Rạng rỡ Văn hiến Việt Nam’ tái hiện cuộc đời Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn

‘Rạng rỡ Văn hiến Việt Nam’ tái hiện cuộc đời Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn

(CLO) Lễ kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa, nhà bác học kiệt xuất Lê Quý Đôn sẽ diễn ra tối 31/7 tại Hưng Yên. Điểm nhấn của sự kiện là lễ trao Nghị quyết của UNESCO vinh danh Lê Quý Đôn và chương trình nghệ thuật đặc biệt "Rạng rỡ Văn hiến Việt Nam", truyền hình trực tiếp trên VTV1.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt được dàn dựng công phu dự kiến diễn ra trong tháng 8 hoặc tháng 9/2026.

Quảng Ninh sẵn sàng bùng nổ với tuần lễ du lịch và đại nhạc hội

(CLO) Tâm điểm rực rỡ nhất trong toàn bộ chuỗi hoạt động hướng tới dấu mốc lịch sử của vùng đất mỏ trong tháng 8 và tháng 9 tới đây chính là đại nhạc hội đặc biệt và tuần lễ vàng kích cầu du lịch, hứa hẹn biến toàn bộ không gian Quảng Ninh thành một chuỗi ngày hội văn hóa đa sắc màu.

Người trẻ có thể trở thành ‘đại sứ văn hóa’ trên không gian số

Người trẻ có thể trở thành ‘đại sứ văn hóa’ trên không gian số

(CLO) Mạng xã hội đang mở ra cơ hội chưa từng có để văn hóa truyền thống đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, theo Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tấn Phát (nghệ nhân sơn mài, làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội), bên cạnh sự sáng tạo, người làm nội dung cần đặt tính chân thực và sự tôn trọng di sản lên hàng đầu, bởi chỉ khi hiểu đúng thì mới có thể lan tỏa đúng.

Từ “sơn mài trắng” đến “sơn mài tổng hợp”: Hành trình “làm mới” chất liệu của họa sĩ Lê Văn Thìn

Từ “sơn mài trắng” đến “sơn mài tổng hợp”: Hành trình “làm mới” chất liệu của họa sĩ Lê Văn Thìn

(NB&CL) Gần nửa thế kỷ sáng tạo, họa sĩ Lê Văn Thìn đưa đến những thử nghiệm nghệ thuật táo bạo từ “sơn mài trắng” đến triết lý “vẽ bằng búa”. Đó là hành trình không ngừng tìm kiếm ngôn ngữ tạo hình mới, đồng thời mở rộng giới hạn biểu đạt của chất liệu sơn mài Việt Nam.

Sắp công diễn vở kịch thơ huyền ảo về Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương

Sắp công diễn vở kịch thơ huyền ảo về Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương

(CLO) Lấy cảm hứng từ những giai thoại văn học xoay quanh hai danh nhân Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, vở kịch thơ huyền ảo "Nguyễn Du - Hồ Xuân Hương ngoại truyện" sẽ chính thức ra mắt công chúng từ ngày 7/8, mở ra góc nhìn mới về hai biểu tượng thi ca của dân tộc thông qua ngôn ngữ sân khấu giàu chất thơ và màu sắc huyền ảo.

Triển lãm gốm tâm linh quy mô lớn nhất Việt Nam sẽ được tổ chức trên núi Bà Đen trong tháng 8

Triển lãm gốm tâm linh quy mô lớn nhất Việt Nam sẽ được tổ chức trên núi Bà Đen trong tháng 8

Triển lãm “Kinh gốm – thanh âm thế gian” là lần đầu tiên tại Việt Nam một triển lãm gốm quy mô lớn được tổ chức trên đỉnh núi. Diễn ra từ ngày 8/8-6/9/2026, triển lãm trưng bày hơn 400 tác phẩm gốm mang cảm hứng Phật giáo được tạo tác bởi nghệ sĩ Nguyễn Tuấn và các nghệ nhân làng nghề Phù Lãng.

Cỡ chữ bài viết: