Loạt bài “Vành đai văn hóa soi sáng biên cương” của Báo và Phát thanh, Truyền hình Tuyên Quang đoạt Giải B Giải Búa liềm vàng 2025 – một tác phẩm báo báo chí kết tinh của những chuyến đi dài ngày, của mồ hôi trên đường rừng và cả những trăn trở âm ỉ trước nguy cơ “đứt gãy” văn hóa nơi phên dậu Tổ quốc.
Thai nghén từ những chuyến đi dài ngày nơi biên ải
Nhà báo Chúc Ngọc Huyền, đại diện nhóm tác giả, gọi hành trình ấy là một sự “thai nghén” từ thực tiễn. Không phải từ phòng họp, càng không từ ý tưởng lý thuyết, mà từ những ngày cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt với bà con vùng biên.
Chính trong không gian ấy, một nhận thức dần hình thành: văn hóa không phải lớp vỏ bên ngoài của đời sống. Như chị Huyền chia sẻ: “Chúng tôi thấm thía rằng văn hóa không chỉ là những bộ trang phục rực rỡ hay tiếng khèn vui tai trong dịp lễ hội. Văn hóa đã bám rễ sâu vào từng nếp nhà, từng nương ngô, trở thành hơi thở, thành lẽ sống của đồng bào”.
Sự “bám rễ” ấy mở ra một cách nhìn khác: văn hóa là một “lực lượng mềm” đặc biệt. Không ồn ào nhưng bền bỉ; không hữu hình như cột mốc bê tông nhưng lại có khả năng giữ gìn chủ quyền từ trong tâm thức. Nó là sợi dây gắn kết đồng bào với cội nguồn và với Đảng.
Từ thực tiễn đó, nhóm tác giả đi tới một luận điểm xuyên suốt: biên giới quốc gia không chỉ được xác lập bằng mốc giới hữu hình, mà còn được giữ vững bằng những “cột mốc bản sắc”. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, họ đặt bút với niềm tin rằng: văn hóa còn, nền tảng dân tộc còn.
Những phát hiện day dứt
Ban đầu, loạt bài dự kiến tập trung vào lễ hội và phong tục đẹp. Nhưng càng đi sâu, thực tế hiện ra phức tạp hơn nhiều.
Một mặt là sức sống tự thân của văn hóa. Ở xã Sơn Thủy, Câu lạc bộ Soọng cô hoạt động hoàn toàn tự nguyện. Ở phường Hà Giang 1, lớp học hát Then của ông Nguyễn Văn Chự duy trì không cần kinh phí nhà nước. Người dân truyền dạy cho nhau chỉ vì sợ mất gốc. Không phong trào hình thức, không chỉ tiêu, chỉ có ý thức gìn giữ. Theo nhà báo Chúc Ngọc Huyền, điều đó cho thấy “thế trận lòng dân” không phải khái niệm trừu tượng, mà tồn tại trong đời sống hằng ngày.
Nhưng song song với sức sống ấy là những dấu hiệu đáng lo. Công nghệ số và mạng xã hội đang tạo ra một dòng chảy mới, cuốn theo không ít giá trị truyền thống. Hình ảnh những em nhỏ dân tộc Mông, Dao quay clip TikTok với trang phục lai căng, hay câu nói hồn nhiên của cháu trai nghệ nhân Ly Xín Cấu ở Đồng Văn: “Cháu sẽ quay ông lại, đăng lên mạng, biết đâu được triệu view”, thay vì học thổi khèn… không chỉ là câu chuyện thị hiếu.
Theo chị Huyền, đó là biểu hiện của một nguy cơ đứt đoạn truyền nối giữa các thế hệ. Khi bản sắc không còn là lựa chọn ưu tiên, khoảng cách giữa truyền thống và hiện tại sẽ ngày một xa.
Ở chiều sâu khác, loạt bài còn chạm đến hoạt động của các tà đạo như “San sư khẻ tọ”, “Dương Văn Mình”. Khi môi trường văn hóa bị suy yếu, niềm tin tâm linh dễ bị lợi dụng. Khoảng trống bản sắc có thể trở thành điểm tựa cho những tư tưởng lệch lạc len lỏi, chia rẽ cộng đồng. Những quan sát ấy khiến nhóm tác giả nhận ra: nếu tiếng nói, nếp nhà, phong tục mai một, thì sự mong manh sẽ xuất hiện không chỉ trong văn hóa mà cả trong lòng người.
Chính từ đó, khái niệm “Vành đai văn hóa” được xác lập như một cách tiếp cận mang tính chiến lược: bảo vệ Tổ quốc không chỉ bằng biện pháp hành chính hay lực lượng, mà bằng việc củng cố nền tảng văn hóa từ sớm, từ xa.
Khi văn hóa trở thành điểm tựa của xây dựng Đảng
Từ thực địa, loạt bài đi đến một kết luận có tính khái quát cao. Nhà báo Chúc Ngọc Huyền đúc kết: “Gốc rễ của Đảng là lòng Dân”. Đó không phải một khẩu hiệu lặp lại, mà là nhận thức được kiểm chứng qua từng bản làng.
Nếu lòng dân là gốc rễ, thì sự bền vững của văn hóa chính là điều kiện để nuôi dưỡng gốc rễ ấy. Bởi vậy, bảo tồn văn hóa không thể chỉ coi là nhiệm vụ xã hội đơn thuần. Ở địa bàn biên giới, đó còn là “tấm khiên” bảo vệ nền tảng tư tưởng. Khi người dân không còn thấy tiếng nói, phong tục, bản sắc của mình được tôn trọng trong quá trình phát triển, niềm tin sẽ suy giảm; và chính lúc ấy, các luồng tư tưởng lệch lạc có cơ hội tác động.
Loạt bài cũng đặt ra yêu cầu cụ thể đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Ở vùng cao, dân vận không hiệu quả nếu chỉ dừng ở nghị quyết hay diễn thuyết. Nó bắt đầu từ sự thấu hiểu và đồng hành. Khi người đảng viên biết trân trọng tiếng nói của dân, cùng dân giữ gìn nếp nhà, điệu khèn, phong tục, thì sự hiện diện của Đảng không còn là khái niệm hành chính, mà trở thành sự gắn bó cụ thể trong đời sống.
Nghị quyết về văn hóa chỉ thực sự có sức sống khi chuyển hóa thành những thay đổi hữu hình: những ngôi nhà mới nhưng vẫn giữ kiến trúc truyền thống; những trường nội trú nuôi dưỡng tri thức cho con em đồng bào; việc khắc phục tình trạng thiếu không gian cho sinh hoạt văn hóa, như câu chuyện người Xuồng, người Thủy bị mất tên trên giấy tờ hay nhà văn hóa bỏ hoang. Khi chủ trương đi vào đời sống như vậy, Ý Đảng và lòng Dân mới gặp nhau một cách thực chất.
Phản hồi từ cơ sở sau khi loạt bài đăng tải cho thấy hướng tiếp cận ấy không xa rời thực tế. Những cuộc gọi của già làng, những tin nhắn xúc động của bà con khi vai trò “giữ lửa” được ghi nhận, cùng việc các cấp ủy tham khảo nội dung loạt bài để điều chỉnh chính sách sát hơn với đời sống, là minh chứng rõ ràng.
Từ hành trình dọc tuyến biên giới dài hơn 277 km của Tuyên Quang, “Vành đai văn hóa soi sáng biên cương” đi đến một kết luận có tính chiến lược: xây dựng Đảng vững mạnh nơi biên ải không thể chỉ dựa vào tổ chức bộ máy hay lực lượng bảo vệ. Nền tảng phải bắt đầu từ văn hóa – nơi hình thành niềm tin, bản sắc và sự gắn bó của cộng đồng với quốc gia. Khi lòng dân được củng cố từ nền tảng ấy, biên giới sẽ được giữ vững từ bên trong.