Một số câu hỏi thường gặp của F0 và lời giải đáp

3 câu hỏi thường gặp, người bệnh có thể chủ động

1. Tôi/người nhà tôi thành F0, làm sao để những người khác trong nhà không bị lây nhiễm?

- Thực hiện thật tốt việc bảo hộ cá nhân theo hướng dẫn của ngành Y tế.

- Súc họng ngày 3-4 lần bằng dung dịch povidone iodin 1,0% hoặc chlorhexidine 0,12-0,20%. Trước và sau nên súc thêm bằng nước muối sinh lý.

mot so cau hoi thuong gap cua f0 va loi giai dap hinh 1

Khi bị F0 mọi người nên bình tĩnh, làm theo hướng dẫn của các bác sĩ.

2. Tôi dương tính rồi, phải làm sao?

- Rất cần thiết phải có: máy đo SpO2, dung dịch súc họng như trên, thuốc hạ sốt.

- Về cơ bản, F0 ăn uống ngủ nghỉ tốt và điều trị các triệu chứng là ổn. Điều quan trọng là không lây nhiễm cho người khác.

- Chỉ cần bổ sung 1 viên vitamin tổng hợp mỗi ngày là đủ. Dùng các loại vitamin C, D hoặc kẽm liều cao chưa được chứng minh là có hiệu quả rõ rệt. Các loại thuốc bổ, tăng cường miễn dịch khác có thì cũng tốt mà không có cũng không sao. Nhiều thuốc quá đến lúc đi tìm dễ bị loạn.

3. Tôi phải làm gì khi có các triệu chứng của COVID-19?

Khi virus xâm nhập cơ thể, hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ chiến đấu với virus và sẽ biểu hiện ra ngoài bằng các triệu chứng. 

5 câu hỏi F0 cần sự đồng hành của thầy thuốc

1. Tôi thành F0, có nhất thiết cần uống thuốc kháng virus không?

Vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tải lượng virus có cao không; đã tiêm đủ vaccine chưa; tuổi; có bệnh nền hay không; sức đề kháng tốt không; có nguy cơ lây cho nhiều người hay không...

Hiện tại, Favipiravir và Molnupiravir được ngành Y tế phát miễn phí sử dụng để điều trị COVID-19 tại nhà.

Việc có sử dụng thuốc kháng virus hay không, dùng loại nào, thực sự cần sự trao đổi thống nhất giữa bác sĩ và người bệnh dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế (mới nhất ngày 12/12/2021).

2. Kháng đông dùng cho trường hợp nào?

Trừ một số chống chỉ định như: người bệnh đang chảy máu (kinh nguyệt, xuất huyết tiêu hóa...) hoặc bị bệnh giảm tiểu cầu, bệnh dễ chảy máu... thì thuốc kháng đông tương đối an toàn. Các bệnh nhân sau đột quỵ nhồi máu não, đặt stent mạch vành, bệnh van tim... thường phải dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc kháng đông trong nhiều năm liên tục.

Một số nghiên cứu cho thấy dùng thuốc kháng đông với liều thấp để dự phòng có thể có tác dụng tốt trong việc phòng chống "bão cytokine" ở bệnh nhân COVID-19. Khuyến cáo chính thống hiện tại là sử dụng thuốc chống đông khi SpO2 giảm dưới 95% liên tục mà không thể lên được. Liều dùng cụ thể cần được cân nhắc và tính toán cẩn thận dựa vào chuyên môn của bác sĩ và tình trạng của người bệnh.

3. Có dùng kháng sinh hay không?

Các loại kháng sinh như Amoxicillin có hoặc không kết hợp clavulanic, ceforuxime, azithromycin, ciprofloxacine, levofloxacine và một số loại khác...

Với một số người hay bị viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi..., bình thường họ đã dễ nhiễm khuẩn đường hô hấp, khi mắc COVID-19, nguy cơ nhiễm khuẩn đường hô hấp càng tăng cao. Với những người này, thậm chí có thể phải dùng kháng sinh dự phòng, từ lúc chưa thấy dấu hiệu nhiễm khuẩn.

Các cháu bé hay phải dùng kháng sinh, các bệnh nhân nhiều bệnh nền (đặc biệt tiểu đường), các bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế miễn dịch lâu dài... thuộc nhóm này.

Với các trường hợp khác, chúng ta dùng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn. Để xác định F0 có nhiễm khuẩn hay chưa, cần có các xét nghiệm. Nếu được thì người dân nên xét nghiệm công thức máu và một số chỉ số đánh giá tình trạng viêm trước khi quyết định sử dụng kháng sinh.

Khi đã quyết định dùng kháng sinh, thì dùng loại nào, liều lượng bao nhiêu, phối hợp kháng sinh ra sao và cần dùng thêm gì để giảm bớt tác dụng có hại của kháng sinh (ví dụ cần dùng thêm men tiêu hóa với các cháu bé, người già), cần kiến thức của các bác sĩ kết hợp với thông tin từ người bệnh (đã dùng loại nào, có dị ứng không,...).

Với thuốc kháng sinh, suốt cả quá trình bị COVID-19 đều có thể cần dùng. Khoảng ngày thứ 7-10 sau khi xuất hiện các triệu chứng, một số ít các F0 có thể xuất hiện các rối loạn miễn dịch đến mức ảnh hưởng đến tính mạng. Nổi bật là hai rối loạn chính: rối loạn đông máu và rối loạn phản ứng viêm, đầu tiên tại phổi, sau đó tới toàn cơ thể. 

4. Có dùng thuốc kháng viêm corticoid hay không?

Các thuốc thuộc nhóm này như: Dexamethasone, prednisolon, methyprednisolon.

Corticoid mà cụ thể là Dexamethasone nổi lên như một loại thuốc giá rẻ (vốn khá thông dụng) nhưng lại rất hiệu quả trong điều trị rối loạn đáp ứng miễn dịch do COVID-19. Sau này, các nhà khoa học thấy không chỉ Dexamethasone mà các loại corticoid khác như Prednisolon hay Methylprednisolon cũng có tác dụng tốt tương tự.

Khác với thuốc kháng đông, không có bất cứ ý kiến nào khuyên là nên dùng corticoid để dự phòng bão cytokine.

Tất cả các nghiên cứu cho thấy, dùng corticoid sớm (khi chưa phải thở oxy, khi SpO2 còn trên 95%) đều làm cho tỷ lệ trở nặng và tỷ lệ tử vong do COVID-19 cao hơn so với không dùng corticoid.

Kháng viêm corticoid, thực chất là thuốc ức chế hệ thống miễn dịch, nó làm giảm sức đề kháng của cơ thể. Trong giai đoạn đầu, khi hệ miễn dịch đang chiến đấu chống lại virus, mà lại dùng thuốc ức chế miễn dịch khác gì tiếp tay cho virus, làm bệnh tình thêm nặng.

Dùng corticoid cũng khiến cho người bệnh dễ nhiễm vi khuẩn và nhiễm nấm hơn. Trên các bệnh nhân tiểu đường và tăng huyết áp, corticoid làm trầm trọng thêm mức độ của bệnh. Không chỉ vậy, corticoid còn có một loạt các tác dụng phụ nguy hiểm.

Thông thường, khi dùng kháng viêm corticoid, sẽ phải kèm theo thuốc bảo vệ dạ dày (giảm tiết acid như omeprazol, esomeprazol hoặc kháng acid như nhôm hydroxyd, magne hydroxyd...) và kháng sinh để phòng bội nhiễm vi khuẩn.

Việc dùng với liều lượng bao nhiêu cũng không đơn giản, với các F0 tại nhà thì không quá phức tạp, nhưng khi chuyển nặng, vào bệnh viện, có rất nhiều phương án sử dụng corticoid khác nhau.

5. Dấu hiệu phải nhập viện?

Đây là vấn đề rất quan trọng đặc biệt trong tình hình của Hà Nội hiện tại. 

Thông thường, khi SpO2 giảm bền vững xuống dưới 95%, hoặc khi nằm sấp thì SpO2 tăng rõ rệt so với khi nằm ngửa (cải thiện khoảng 5%) là đã có dấu hiệu bắt đầu của bão cytokine.

Lúc này, một mặt cần phải cho người bệnh thở oxy, bằng bình oxy khí nén hoặc bằng máy tạo oxy, để duy trì SpO2 trên 95%, một mặt cần cho uống ngay các loại thuốc kháng đông, kháng viêm, liều lượng cụ thể phụ thuộc vào nhận định của bác sĩ.

Trong lúc chờ chuyển viện, người nhà cần tìm hiểu quy định về phân tầng điều trị (của Sở Y tế Hà Nội) để xem F0 nhà mình thuộc diện nào, có thể được điều trị tại những bệnh viện nào, từ đó có phương án chuẩn bị xe và liên hệ với y tế phường, với 115 hoặc trực tiếp với các bệnh viện.

Ngoài thuốc kháng đông, kháng viêm thì khi nhập viện, kháng sinh hầu như là bắt buộc để phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện. Ngoài ra thường sẽ phải dùng thuốc bảo vệ dạ dày, thuốc an thần.

Xem thêm

Đi tìm "tiếng khóc trẻ thơ": Lời giải nào từ hai mũi nhọn Micro-TESE và IVM tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội?

Đi tìm "tiếng khóc trẻ thơ": Lời giải nào từ hai mũi nhọn Micro-TESE và IVM tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội?

(CLO) Có một không gian đặc biệt tại Khoa Hỗ trợ sinh sản và Nam học (Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội). Đó không hẳn là sự căng thẳng thường thấy nơi bệnh viện, mà là sự nén lặng của hy vọng. Gần 100 khách hàng mang đến hội thảo “Micro-TESE và IVM – Hai giải pháp tiên tiến trong điều trị hiếm muộn” không chỉ là những hồ sơ bệnh án, mà là hàng trăm ngàn ngày mòn mỏi đi tìm câu trả lời cho khao khát làm cha mẹ.

Giải mã AMH và hiếm muộn: Thắp sáng hy vọng cho những hành trình tìm con dang dở

Giải mã AMH và hiếm muộn: Thắp sáng hy vọng cho những hành trình tìm con dang dở

(CLO) “Vợ chồng em đã đi tìm con suốt 16 năm, điều trị nhiều nơi trong và ngoài nước… nhưng đến giờ vẫn chưa được làm cha mẹ. Liệu chúng em còn cơ hội không, thưa bác sĩ?”. Lời tâm sự nghẹn ngào ấy đã khiến cả hội trường chùng xuống trong giây lát tại Hội nghị khách hàng “Giải mã AMH và hiếm muộn – Đồng hành đón con yêu” do Khoa Hỗ trợ sinh sản & Nam học (Bệnh viện Phụ sản Hà Nội) tổ chức.

Gia Lai: 78 người nhập viện sau khi ăn bánh mì

Gia Lai: 78 người nhập viện sau khi ăn bánh mì

(CLO) Sau khi mua bánh mì thập cẩm tại một hộ kinh doanh trên địa bàn phường An Khê (Gia Lai), 78 người lần lượt xuất hiện các triệu chứng đau quặn bụng, tiêu chảy, nôn ói nhiều lần và sốt, phải nhập viện điều trị.

Trường học mở cửa, nguy cơ dịch bệnh tăng theo

Trường học mở cửa, nguy cơ dịch bệnh tăng theo

(CLO) Gần 100.000 ca bệnh tay chân miệng được ghi nhận trong hơn 8 tháng, cao hơn 2,5 lần cùng kỳ 2025, trong khi khoảng 3.000 ca xuất hiện mỗi tuần gần đây. Học sinh tại nhiều địa phương đang đồng loạt trở lại trường, làm gia tăng nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm.

Nghịch lý ung thư tại Việt Nam

Nghịch lý ung thư tại Việt Nam

(CLO) Việt Nam mỗi năm ghi nhận hơn 177.000 ca ung thư mới và hơn 111.000 người tử vong. Tỷ lệ tử vong trên số ca mắc mới khoảng 63%, cao hơn đáng kể so với mức 35-40% ở nhiều nước phát triển. Theo chuyên gia, điều đáng lo không nằm ở việc ngày càng phát hiện nhiều ung thư, mà là không ít người bệnh được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn.

Bệnh tay chân miệng tăng mạnh trước thềm năm học mới

Bệnh tay chân miệng tăng mạnh trước thềm năm học mới

(CLO) Theo hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, trong 8,5 tháng đầu năm 2026, cả nước ghi nhận gần 100.000 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, cao hơn 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, trong 4 tuần gần đây, số ca mắc vẫn ở mức khoảng 3.000 trường hợp mỗi tuần. 

Sau vụ sản phẩm Loramen của 'cô giáo Hương' và 'Phú Lê': Nỗi khổ phòng the của đàn ông thành công cụ kiếm tiền bất chính

Sau vụ sản phẩm Loramen của 'cô giáo Hương' và 'Phú Lê': Nỗi khổ phòng the của đàn ông thành công cụ kiếm tiền bất chính

(CLO) Biết rõ Loramen không có công dụng tăng cường sinh lý, kéo dài thời gian quan hệ, nhóm “cô giáo Hương” và vợ chồng "Phú Lê" vẫn xây dựng kịch bản, sản xuất hàng loạt video trên mạng xã hội để thổi phồng công dụng, thu hút khách hàng. Chỉ trong khoảng 18 tháng, sản phẩm này ghi nhận doanh thu bán lẻ hơn 11,6 tỷ đồng.

Y học hạt nhân mở đường điều trị ung thư chính xác, cá thể hóa

Y học hạt nhân mở đường điều trị ung thư chính xác, cá thể hóa

(CLO) Từ PET/CT, SPECT/CT đến Theranostics và xạ trị thích ứng, những tiến bộ trong y học hạt nhân đang giúp bác sĩ không chỉ “nhìn thấy” khối u mà còn xác định đặc điểm sinh học, tìm đúng tổn thương đích và lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp hơn với từng người bệnh.

Cỡ chữ bài viết: