Đó là để có độc lập tự do có khi phải đổ máu hy sinh cuộc sống! Tôn vinh nghìn năm, đừng quên trăm năm!"
Tầm nhìn và ý chí dân tộc
Một nghìn năm là mười lần một trăm năm. Một trăm năm là một thế kỷ. Kỷ niệm nghìn năm là kỷ niệm một bề dày 10 thế kỷ hay chỉ là một khoảng cách? Nói kỷ niệm nghìn năm Thăng Long là lấy cái mốc mùa Thu năm Canh Tuất (ứng với năm 1010 theo Tây lịch) tính đến năm 2010 là đúng 1000 năm.
Đương nhiên cái sự kiện đuợc ghi trong chính sử và cũng lưu truyền thành huyền thoại về việc đức Lý Công Uẩn ra chiếu rời đô ở Hoa Lư rồi ngự giá ra Bắc, từ sông Hồng vào đến Tây Hồ nhìn tượng khí tựa Rồng Bay mà cảm hứng đặt tên cho vùng đất vốn là Đại La thành thành Thăng Long thành rồi định đô ở đó. Cái cảm hứng đầy chất nghệ sĩ ấy chính để diễn đạt một tầm nhìn và một ý chí lớn lao của cả một dân tộc mà danh xưng của kinh đô là biểu tuợng.
Sau đức Lý Thái Tổ các thế hệ các triều đại kế nghiệp tuy có lúc thăng lúc trầm nhưng đã không ngừng góp phần gìn giữ non sông và đưa đất nước phát triển cho đến ngày nay. Vì thế mà việc kỷ niệm ngàn năm Thăng Long phải được hiểu là kỷ niệm cả một bề dày lịch sử mở ra từ cái sự kiện đến năm 2010 vừa tròn nghìn năm.
Nghĩ ngợi lan man như vậy cũng để băn khoăn trước những công việc chuẩn bị cho dịp kỷ niệm trọng thể này. Ngoài những công trình xây dựng làm cho Hà Nội ngày càng hiện đại hơn như xây cầu, mở đường, cất nhà hay chỉnh trang đường phố... là những việc đương nhiên dù có cái mốc ngàn năm hay không thì vẫn phải làm. Giá trị là ở chỗ nó rơi vào đúng dịp này nên được gắn thêm cái biển để đời sau nhớ đến năm 2010 là Hà Nội vừa tròn nghìn tuổi để đếm tiếp cái tuổi thọ của Thủ đô chúng ta.
Điều đáng nghĩ ngợi là dường như, không nói đến những hạng mục đã dự kiến nhưng nay đã từ bỏ như dự án xây Khải hoàn môn hay dựng biểu tuởng ở cửa ô phía Nam... chưa tính đến những dự án lớn như xây Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hay Bảo tàng Hà Nội đến lúc này vẫn chưa động thổ và khu vực khai quật di chỉ Hoàng thành Thăng Long và công trường xây dựng công trình thay thế Hội trường Ba Đình hẳn còn ngổn ngang vào thời điểm chỉ còn hai năm rưỡi nữa thì đến tháng 10-2010.
Có điều đáng ghi nhận là nhiều đền chùa đã được giải toả lấn chiếm và sửa sang lại tạo nên những nét đẹp chủ đạo cho dấu tích cổ kính trên hình hài của Thủ đô ở thế kỷ XXI, tuy chưa thấm đâu so với sức công phá của mấy chụcj năm bị lấn chiếm , mất mát khắp nơi...
Một tượng Lý Công Uẩn đã đựơc dựng ở trung tâm Thủ đô, một dự kiến sẽ xây thêm một ngôi đền thờ Ngài và có thể cả một Tháp Báo Thiên của thời đại mới,rồi cả những dự án từ dân gợi y về một nơi tôn vinh vị anh hùng đã hiển thánh: Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn v.v... Đương nhiên còn có bóng tượng Thánh Gióng in trên nền trời Sóc Sơn và một Thành Cổ Loa đang được hứa hẹn nhưng chắc phải lâu dài mới hoàn tất...
"Hậu cổ bạc kim"?
Nhưng có một điều đáng để nghĩ ngợi hơn cả là cái xu hướng “hậu cổ bạc kim” , khi chẳng thấy ai nghĩ tới một cái tượng đài tôn vinh nền Độc lập. Cả ngàn năm khởi đầu từ Thăng Long mang cái nội hàm vĩ đại và sâu sắc nhất là vun đắp nền tự chủ. Vì thế mà nhà yêu nước lớn Phan Bội Châu tôn vinh đức Ngô Vương Quyền là Tổ Trung hưng thứ nhất, rồi đức Lê Thái Tổ người chấm dứt vết nhơ 20 năm bị giặc Minh đô hộ là vị Tổ Trung hưng thứ hai...
Vậy mà cái kỳ tích chấm dứt 80 năm giặc Pháp đô hộ (gấp 4 lần thời gian giặc Minh đô hộ) để không chỉ giành được độc lập mà còn gây dựng chế độ Dân chủ Cộng hoà nhờ đó đủ sức bảo vệ nền độc lập ấy qua ba cuộc chiến tranh chống ngoại xâm giữ vững thống nhất và chủ quyền lãnh thổ, đáng được gọi là cuộc Trung hưng thứ Ba thì dường như chẳng có một công trình nào tôn vinh tương xứng.
Vì sao không cao vút từ Quảng trường Ba Đình lịch sử này một tượng đài độc lập?
Hỏi rằng trong dấu tích nghìn năm ấy, cuộc Cách mạng tháng Tám nay được ghi dấu bằng cái gì? Chỉ có mấy tấm biển báo trên nền của kiến trúc thực dân (cửa Nhà Hát Lớn, tường Bắc Bộ Phủ) lọt thỏm giữa bề bộn của cuộc sống đời thường. Ngay nơi Tuyên ngôn nền Độc lập cũng chẳng thấy đâu biểu tượng cho niềm tự hào mà cuộc Cách mạng Tháng Tám mang lại. Tất cả chỉ là dấu tích của những kiến trúc không xô viết thì thuộc địa hoặc sẽ lại là của nước ngoài...
Vì sao không cao vút từ Quảng trường Ba Đình lịch sử này một tượng đài độc lập như ở Washington tự hào về cuộc Cách mạng Độc lập của Hoa Kỳ 1776, ở Phnompenh ghi nhận nền độc lập của vương quốc Campuchia giành được từ tay thực dân. Hay cùng vào mùa thu 1945 với ta là ở Jakarta nền độc lập của dân tộc Indonesia giành được từ sự sụp đổ của chủ nghĩa phát xít ...
Nếu phải nói đến một công trình tượng đài biểu tượng cho một nghìn năm vừa qua chính phải là một Tượng đài Độc lập mà đến nay dường như chưa có trong suy nghĩ của các nhà lãnh đạo (!?). Bước vào thời hội nhập, chính cái tượng đài ấy phải hiển hiện như một ngọn hải đăng chiếu vào cả quá khứ 1000 năm đã qua và 1000 năm đang tới.
Gần đây, báo chí lại nhắc đến dấu tích còn lại của một sự kiện diễn ra cách đây đúng 100 năm trên mảnh đất Hà Nội. Đó là những ngôi mộ còn lại của những nghĩa sĩ tham gia vụ Hà Thành đầu độc (1908). Những con người làm nên chiến tích ấy là những người đầu bếp, những người lính khố xanh, được cổ vũ bởi nghĩa khí của những nghiã quân Yên Thế và hào khí của các nhà nho Duy Tân đã nổi dậy mưu binh biến ở ngay giữa phố xá Hà Nội.
Sự việc không thành để lại cho đời sau những tấm ảnh mà thực dân in thành bưu thiếp để khủng bố tinh thần nhân dân Việt Nam; những cái đầu mới lìa khỏi cổ, máu trên vết chém còn tươi, những nghĩa sĩ bị gông cùm xiết chặt thân thể...
Vậy mà thời gian và sự vô tình đã xoá mờ dấu tích của họ trong sự quên lãng của người đời, chỉ còn lại những nấm mồ bị bỏ hoang mà những người dân giàu lòng nghĩa hiệp đã quy tập và hương khói đã bao nhiêu năm. Tôi nhớ rõ cách đây đã 5, 6 năm dư luận đã lên tiếng, những kiến nghị đã gửi tới các cơ quan có thẩm quyền vậy mà chưa thấy một dự án nào được triển khai để quy tập phần mộ của những người anh hùng ấy vào nơi xứng đáng.
Trong khí đó vào dịp nghìn nămThăng Long này, Hà Nội đang bỏ tiền của để tiến hành một dự án theo kiểu Hàn Quốc là xây dựng cả một công trình “lưu dấu cho tương lai”. Đến nay dự án còn đang bàn sẽ chôn cất cái gì vào đó để làm thông điệp cho đời sa. Vậy thì tại sao không để tâm vào việc chôn cất những di hài của các nghĩa sĩ vào nơi xứng đáng vì đó là cái thông điệp có giá trị muôn đời: Để có độc lập tự do có khi phải đổ máu hy sinh cuộc sống! Tôn vinh nghìn năm, đừng quên trăm năm!
Dương Trung Quốc (Nhà sử học)
Theo Tuanvietnam