Qua phân tích phổ điểm và kết quả thi, PGS.TS Bùi Thanh Hoa cho rằng đề thi Ngữ văn năm nay đã thực hiện tốt hai nhiệm vụ quan trọng là đánh giá năng lực học sinh để xét tốt nghiệp THPT và cung cấp dữ liệu tin cậy cho các trường đại học sử dụng trong tuyển sinh.
Theo bà, đối với một đề thi hướng đến đánh giá năng lực, đặc biệt là năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học, đề thi năm 2026 đã đáp ứng được yêu cầu về độ phân hóa cũng như độ tin cậy.
Điểm nổi bật nhất của đề thi năm nay, theo PGS Hoa, là tiếp nối xu hướng đổi mới từ năm 2025, chính thức khép lại tình trạng học tủ, học thuộc, học vẹt vốn tồn tại nhiều năm.
"Đề thi không còn đo lường học sinh nhớ được gì hay biết được gì, mà tập trung đánh giá xem học sinh làm được gì; thể hiện kỹ năng ngôn ngữ, tư duy và cảm thụ văn học như thế nào", bà nhấn mạnh.
Việc sử dụng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa cùng cách ra đề mở không chỉ thay đổi cách học mà còn góp phần khuyến khích văn hóa đọc trong trường phổ thông.
Phổ điểm chứng minh đề mở vẫn bảo đảm công bằng
Trước kỳ thi, không ít ý kiến băn khoăn khi đề Ngữ văn sử dụng ngữ liệu liên quan đến công nghệ, các phát minh hiện đại hay nhân vật nước ngoài, lo ngại có thể tạo bất lợi cho học sinh vùng khó khăn.
Tuy nhiên, PGS Hoa cho rằng kết quả thực tế đã cho thấy điều ngược lại.
"Lần đầu tiên tỉnh Lai Châu xuất hiện trong nhóm 10 địa phương có kết quả nổi bật. Điều đó cho thấy đề thi đã đo đúng năng lực của học sinh, thay vì phụ thuộc điều kiện vùng miền", bà phân tích.
Theo bà, khi đề thi được thiết kế dựa trên các năng lực phổ quát mà Chương trình giáo dục phổ thông 2018 quy định, mọi học sinh trên cả nước đều có cơ hội thể hiện năng lực của mình một cách bình đẳng.
"Đây là một đề thi hoàn toàn công bằng với mọi thí sinh", PGS Hoa khẳng định.
Rubric chấm thi giúp giảm phụ thuộc vào cảm tính
Một điểm đổi mới khác được chuyên gia đánh giá rất cao là việc áp dụng rubric (bảng tiêu chí chấm điểm) đối với phần thi viết.
Theo bà, trước đây môn Ngữ văn thường bị cho là phụ thuộc nhiều vào cảm nhận chủ quan của người chấm. Tuy nhiên, rubric với các tiêu chí và mức điểm được quy định rõ ràng đã góp phần giảm đáng kể sự chênh lệch giữa các giám khảo cũng như giữa các hội đồng chấm thi trên cả nước.
"Khi có một rubric đủ mạnh thì việc chấm thi không còn thuần túy là định tính nữa mà đã có cơ sở khoa học rõ ràng", bà nhận định.
Đáng chú ý, trong rubric năm nay, phần điểm dành cho tính sáng tạo, khả năng diễn đạt và sử dụng ngôn ngữ chiếm tỷ trọng đáng kể, tạo điều kiện ghi nhận những bài làm có dấu ấn cá nhân thay vì chỉ đánh giá khả năng ghi nhớ kiến thức.
Theo PGS Hoa, đây cũng là hướng mà các trường phổ thông cần tiếp tục áp dụng trong kiểm tra, đánh giá thường xuyên nhằm hình thành năng lực cho học sinh ngay từ quá trình học tập.
Kiên định đổi mới để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
PGS Hoa cũng chỉ rõ, việc đổi mới đề thi và phương pháp chấm thi không đơn thuần phục vụ một kỳ thi, mà còn góp phần định hướng lại toàn bộ quá trình dạy và học Ngữ văn trong nhà trường.
Bà cho rằng, giáo dục phổ thông đang đi đúng hướng khi lấy việc hình thành năng lực làm trung tâm và cần tiếp tục kiên trì với con đường này, dù trong giai đoạn đầu vẫn còn những bỡ ngỡ.
Theo chuyên gia, khi học sinh được đánh giá bằng những đề thi năng lực và được chấm theo các tiêu chí năng lực, các em sẽ từng bước hình thành những phẩm chất và kỹ năng cần thiết để trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai.
PGS Hoa nhấn mạnh, Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hướng đến hai năng lực cốt lõi của môn Ngữ văn là năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học. Trong đó, năng lực ngôn ngữ giúp học sinh biết nghe, nói, đọc, viết hiệu quả, còn năng lực văn học nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ, tình yêu con người, quê hương và văn hóa.
"Khi những năng lực ấy được tích hợp trong một đề thi tốt và được đánh giá bằng một rubric tốt, chúng ta không chỉ tổ chức một kỳ thi công bằng mà còn góp phần hình thành một thế hệ công dân có năng lực, sáng tạo và giàu giá trị nhân văn", PGS Hoa khẳng định.
| STT | Tỉnh | Điểm TB | Số TS |
| 1 | Ninh Bình | 7.257 | 47,706 |
| 2 | Tp. Hải Phòng | 7.253 | 56,416 |
| 3 | Nghệ An | 7.027 | 41,300 |
| 4 | Tp. Hà Nội | 7.016 | 125,615 |
| 5 | Thanh Hóa | 7.003 | 42,144 |
| 6 | Hà Tĩnh | 6.979 | 18,318 |
| 7 | Đồng Tháp | 6.766 | 36,785 |
| 8 | Phú Thọ | 6.747 | 47,312 |
| 9 | Thái Nguyên | 6.636 | 22,311 |
| 10 | Lai Châu | 6.628 | 4,580 |