Vài ba năm gần đây, do sức khoẻ, đi lại khó khăn, thính lực yếu, ông gần như từ chối các cuộc gặp gỡ phóng viên báo chí, nhưng với tôi ông luôn dành cho một đặc ân, có lẽ phần do tôi ở xa Hà Nội, phần vì ông coi tôi như người trong nhà. Trước đây, khi về Quảng Trị, đi miền Trung ông đều gọi tôi và nhà báo Lê Bân (cháu ruột gọi ông bằng cậu) đi cùng.
Phan Quang có nhiều nhân xưng: Nhà báo, nhà văn, dịch giả, học giả, chính khách, nhà văn hoá, nhà hoạt động xã hội, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội. Nhân xưng nào của Phan Quang cũng hội đủ các tố chất của nó cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Không ít đồng nghiệp thích gọi ông là học giả, bởi sự uyên bác, tri thức sâu rộng, vốn sống tích luỹ dồi dào, thông thạo nhiều ngoại ngữ, thân thiết với nhiều bạn bè là các bậc trí thức quốc tế.
Phan Quang nói hay viết giỏi nhiều thể loại báo và văn, đủ mọi lĩnh vực, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại. Với bút ký báo chí, có thể coi Phan Quang là cây bút hàng đầu, vừa giàu tính thông tấn, ngồn ngộn thông tin nhưng thấm đậm chất văn học, văn phong bỏng bẩy, mượt mà, lôi cuốn. Nghề báo và nghiệp văn chương và dịch giả, Phan Quang đều rất thành công. Truyện cổ A Rập “Một nghìn lẻ một đêm”, Phan Quang chuyển ngữ từ tiếng Pháp qua tiếng Việt từ đầu thập niên 60 thế kỷ XX, nhà xuất bản Văn Học đã tái bản hơn 50 lần. Với tác phẩm lừng danh này, đến nay ở Việt Nam chưa có dịch giả nào theo kịp và vượt qua được Phan Quang.
Đồng nghiệp trong nước, ngoài nước đã viết nhiều, nói nhiều, có cả những đề tài nghiên cứu làm luận án cao học, tiến sĩ báo chí truyền thông về Phan Quang. Tôi viết tiểu thuyết lịch sử sự kiện về ông mang tựa đề “Từ Bến sông Nhùng”. Sông Nhùng là nơi Phan Quang sinh thành, từ đó mà ông ra đi về chiến khu Ba Lòng làm báo Cứu Quốc Liên Khu V phục vụ sự nghiệp Cách mạng giải phóng dân tộc.
Nhân vật Phan Hoàng trong tác phẩm “Từ bến song Nhùng” chính là nhà báo, nhà văn Phan Quang. Hôm tôi đến thăm nhà, sau khi con trai ông là nhà báo có nhiều năm cống hiến tại Báo Nhân Dân bạo bệnh qua đời, sức khoẻ của ông thêm giảm sút. Đôi tai ông không còn tinh tường như trước, nhưng ông vẫn minh mẫn, trí nhớ thật bền, nhắc đến các sự kiện lớn của báo chí, đất nước, ông rất tinh tường. Ông hỏi tôi, vẫn là một học giả Phan Quang lịch lãm, khiêm nhường, đau đáu và da diết nhớ quê, bao kỷ niệm về dòng tộc ở quê nhà:
- Tôi rất nhớ Hải Lăng, nhớ Quảng Trị, nhớ con sông Nhùng, nhưng nay thì chịu rồi, gần trăm tuổi không thể đi lại như xưa. Lần tôi về Quảng Trị với anh và Lê Bân, thấm thoát đã mấy năm, nhanh quá. Bà Cửu (chị gái của ông) cũng đã khuất núi khi bà vượt ngưỡng trăm tuổi, nhớ nhiều lắm. Bữa ta về sông Nhùng bà dặn con cháu nấu nồi khoai lang sông Nhùng ăn cho no bụng, ôn nghèo gợi khổ.
Ngừng lời giây lát, ông hỏi tôi:
- Hội Nhà báo nay chắc tinh gọn hơn, giảm bớt các đầu mối, tạp chí Người Làm Báo không còn, thật tiếc cho một ấn phẩm nghiệp vụ của giới báo chí.
Ông nhớ lại và nhắc tôi:
- Mấy năm trước, tôi đã kể chuyện về nghề báo, nghiệp văn, về nhiều việc hệ luỵ của truyền thông, Kim Hoa và Sĩ Đại có ghi chép, sau này cần viết gì, nói gì về các chuyện đó, tôi uỷ quyền để anh quyết định. Giấy uỷ quyền tôi đã ký và giao cho anh và Tạp chí Người Làm Báo quản lý, một bản gia đình tôi giữ.
Thế mới biết nhà báo, nhà văn, nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam rất nghiêm cẩn, kĩ lưỡng. Tôi trả lời ông:
- Dạ, bác đã có giấy uỷ quyền, học trò Kim Hoa và Sĩ Đại đều đã biết, mọi người đều ký vào đó, cứ vậy mà thực hiện ạ!
Vài ba thập niên trước, tình hình báo chí chưa phát triển như ngày nay. Nói đến mạng xã hội gần như là thứ xa lạ; không có sự can thiệp của công nghệ 4.0, của AI (trí tuệ nhân tạo) như ngày nay. Ai đó nhắc đến hai từ báo chí tư nhân gần như là sự kiêng dè, huý kỵ. Những điều mà nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam Phan Quang kể lại về báo chí nước nhà thời kỳ trước và sau đổi mới, nhìn theo quan điểm lịch sử cụ thể có những điểm rất đáng quan tâm.
Câu chuyện giữa tôi với một học giả, nhà báo nhà văn tên tuổi như vừa thuật lại để nói rằng nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam Phan Quang sắp bước vào tuổi một trăm - bách niên giai lão vẫn tinh tường mọi việc. Con gái Yến Thanh, con rể Hồng Quang, đồng nghiệp Lê Bân và các cháu của ông lúc này lúc khác kể cho tôi nghe nhiều chuyện về gia đình, họ hàng, mọi sự sắp xếp của ông khi hoàng hôn cuộc đời đang trôi dần vào đoạn cuối. Với 60-70 năm làm báo – viết văn, Phan Quang dành nhiều tác phẩm viết về khúc ruột miền Trung gió Lào cát trắng, quê hương Quảng Trị, về Bình Trị Thiên khói lửa, về xứ Quảng, Sài Gòn – Gia Định và vùng châu thổ Chín Rồng – đồng bằng sông Cửu Long.
Yến Thanh và Hồng Quang nói với tôi:
- Ông có nhiều sách trong nước và ngoài nước, sách do ông viết, dịch thuật rất quý. Cả đời ông sống với sách, niềm vui trên đống sách. Mấy năm trước ông đã sắp xếp và căn dặn bà – người bạn đời yêu dấu của ông, các con cháu về di sản sách, di vật nào tặng Bảo tàng Báo chí Việt Nam, di vật nào tặng các Bảo tàng khác.
Tôi hỏi về những điều ông nhắn gửi các nhà báo trẻ, ông nhẹ nhàng, giọng nói khiêm nhường vốn có của một chính khách lịch lãm:
- Cốt nhất là yêu nghề, gắn với cuộc sống gian khổ của nhân dân. Đồng nghiệp trẻ gắng học, gắng đi, gắng viết, viết đúng, viết hay, báo chí có nhiều người đọc, truyền hình có nhiều người xem, phát thanh có nhiều người nghe. Lâu dài báo in vẫn còn độc giả, viết ngắn gọn, dài lê thê không có ai đọc.
Thay lời kết: Các cây bút lão thành, gạo cội, mẫu mực, bách niên giai lão như Phan Quang, Hà Đăng… sống và làm nghề hai thế kỷ, nay còn rất ít, là của hiếm của nền Báo chí Cách mạng nước nhà. Vui Tết đón Xuân, xin được tản mạn đôi dòng về một trong những đại lão báo chí, tấm gương sáng cho các hậu sinh.
Xin có lời chúc thọ, mừng tuổi các đại lão sức khoẻ, an vui, đại đại thọ …
TP. Hồ Chí Minh, 1/2026.