Đột phá nào để hiện thực hoá mục tiêu Top 30 nền kinh tế thế giới?

(NB&CL) Sau gần bốn thập niên đổi mới, câu chuyện tăng trưởng của Việt Nam là một thành công lớn. Bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam mang khát vọng trở thành nước thu nhập cao. Khi đạt mục tiêu này, Việt Nam sẽ vào nhóm 30 nền kinh tế hàng đầu thế giới về quy mô, tăng trưởng bền vững và thu nhập cao. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam sẽ bước vào nhóm 30 đó bằng cách nào, và có kịp chuyển mình trước khi cửa sổ cơ hội khép lại?

Việt Nam đang viết câu chuyện thành công

Trong góc nhìn của các tổ chức quốc tế, Việt Nam đã viết nên một câu chuyện tăng trưởng đặc biệt với những cụm từ như: “thành công”, “ngôi sao sáng” hay “điểm sáng tăng trưởng” khi nói về Việt Nam.

Ngay như TS. Jochen M. Schmittmann, Trưởng đại diện IMF tại Việt Nam, Lào và Campuchia, khi đứng trước hàng trăm học giả quốc tế và chuyên gia quốc tế đã khẳng định: “Việt Nam đã là một câu chuyện thành công. Trong hơn 30 năm qua, Việt Nam tăng trưởng trung bình khoảng 6,8%. Năm 2025, tăng trưởng GDP Việt Nam vượt mục tiêu 8%. Đây là thành tích rất tuyệt vời, đưa Việt Nam vào nhóm các nước có hiệu suất cao nhất thế giới”.

bencang2.jpg
Xuất khẩu tăng mạnh liên tục qua các năm, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP. Ảnh minh hoạ: H.Anh.

Không chỉ tốc độ tăng GDP, khoảng cách thu nhập bình quân đầu người giữa Việt Nam và các nền kinh tế mới nổi đang thu hẹp nhanh chóng. Thành tựu tăng trưởng còn đi kèm với cải thiện xã hội, đặc biệt là giảm nghèo và tiếp cận dịch vụ cơ bản, tạo nền tảng cho những mục tiêu dài hạn. Đó là thành công của Việt Nam - theo TS. Jochen M. Schmittmann.

Dù đã viết nên câu chuyện thành công, nền kinh tế đã tiến rất xa, nhưng cũng đang tiến gần hơn tới những giới hạn nội tại. Thời gian đi tới 2045 đang ngày một gần lại, khoảng cách tới khát vọng còn xa.

Và khi đặt Việt Nam trong so sánh lịch sử với các nền kinh tế thành công nhất, những vấn đề lớn bắt đầu xuất hiện. “Mức tăng trưởng trung bình của Việt Nam trong ba thập kỷ qua, dù ấn tượng, vẫn thấp hơn một số quốc gia có thành công xuất sắc trong khu vực Đông Á”, theo TS. Jochen M. Schmittmann. Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore hay Đài Loan từng duy trì tốc độ tăng trưởng rất cao trong giai đoạn bứt phá quyết định. Thái Lan, Malaysia hay Indonesia trước khủng hoảng tài chính châu Á cũng từng đạt tốc độ cao hơn Việt Nam trong những thời kỳ then chốt. Những phân tích này không làm mờ thành tựu của Việt Nam, mà gợi mở bước đi, cách làm, học kinh nghiệm hay, tránh đường thất bại.

Thời gian ngắn lại, con đường còn xa để đến đích không còn cách nào khác là phải tăng tốc, tăng trưởng phải đạt hai chữ số trong thời gian dài.

Tăng trưởng hai chữ số không hề hiếm ở Đông Bắc Á nhưng hầu như nằm ngoài tầm với của Đông Nam Á, theo TS. Vũ Thành Tự Anh - Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright. Ở Đông Bắc Á, chỉ rất ít nước, trong rất ít năm, duy trì được tăng trưởng GDP bình quân trên 10% trở lên. Đây là kinh nghiệm quan trọng cho Việt Nam trên con đường tiến tới khát vọng.

Con đường vào nhóm tinh hoa

Việt Nam đang hướng tới khát vọng trở thành nước thu nhập cao vào năm 2030. Đạt mục tiêu này, Việt Nam cần lọt vào nhóm tinh hoa 30 nền kinh tế hàng đầu thế giới về quy mô, tăng trưởng bền vững và thu nhập cao, đứng thứ 3 trong khối ASEAN. Tuy nhiên, con đường vào nhóm tinh hoa không chỉ đòi hỏi tốc độ, mà còn yêu cầu chất lượng tăng trưởng, khả năng chống chịu trước biến động toàn cầu và năng lực tạo giá trị cao.

Giờ đây, câu hỏi không còn là Việt Nam đã đi được bao xa, mà là liệu có kịp chuyển sang mô hình tăng trưởng mới để không bỏ lỡ chuyến tàu lịch sử đưa Việt Nam tiến vào nhóm tinh hoa. Nếu bỏ lỡ, nền kinh tế có nguy cơ rơi vào quỹ đạo tăng trưởng chậm kéo dài.

danang4.jpg
Bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam mang khát vọng trở thành nước thu nhập cao. Ảnh minh hoạ: H.Anh.

Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy nhiều quốc gia bị kẹt trong bẫy thu nhập trung bình. Ngay ở Đông Á, chỉ có Singapore và Hàn Quốc duy trì được tăng trưởng 10% sau khi GDP/đầu người vượt qua mức của Việt Nam hiện nay. Nhật Bản đạt tăng trưởng nhanh trong những năm 1950 - 1960, nhưng lại bước vào giai đoạn trì trệ kéo dài từ những năm 1990, bà Kimora Hidemi – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách Nhật Bản (PRI) cho biết. “Để thoát khỏi tình trạng tăng trưởng trì trệ, Nhật Bản tập trung vào chu kỳ phát triển bền vững: sản xuất cao hơn, dẫn đến tiền lương cao hơn, chi tiêu hộ gia đình mạnh hơn và đầu tư doanh nghiệp nhiều hơn. Việt Nam có thể học hỏi mô hình này để tăng khả năng chống chịu và nâng cao chất lượng tăng trưởng”, bà Kimora Hidemi gợi mở.

Để không bỏ lỡ chuyến tàu lịch sử đi tới nhóm tinh hoa, Việt Nam cần tăng trưởng dựa trên chất lượng: thể chế hiện đại, năng lực nội sinh, năng suất cao, mô hình kinh tế tạo giá trị cao. Động lực tăng trưởng Việt Nam đang đến từ nhiều yếu tố tích cực, đến từ cải cách kinh tế, sự năng động của khu vực tư nhân, trong đó có sự phục hồi của tiêu dùng trong nước, chính sách tài khóa nới lỏng và khả năng thích ứng tương đối tốt trước các cú sốc thương mại toàn cầu. Dòng vốn đầu tư nước ngoài không suy giảm, xuất khẩu vẫn duy trì được đà tăng trong bối cảnh bất ổn.

Nhưng, dưới bề mặt tích cực ấy là các rủi ro ngày càng rõ nét. Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở cao nhất thế giới (điều từng tạo nên thành công), nhưng trong bối cảnh thương mại toàn cầu phân mảnh, điều này khiến dễ tổn thương. Năng suất và phân bổ nguồn lực chưa tối ưu, doanh nghiệp gặp nhiều rào cản. Sự lệch pha giữa khu vực FDI và nội địa làm giảm sức mạnh chuỗi giá trị, nền kinh tế khó hình thành các chuỗi giá trị nội địa đủ mạnh. Vấn đề này khiến tăng trưởng thiếu chiều sâu và nền kinh tế dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài. Bên cạnh đó là câu chuyện phân bổ nguồn lực, nguồn lực chưa đến đúng nơi cần nhất.

2026 - 2030 là thời điểm vàng, cơ hội vàng để Việt Nam kịp chuyển mô hình tăng trưởng, chuyển hoá cơ cấu kinh tế và tăng tốc bằng thực hiện các cải cách mạnh mẽ, nâng cao năng suất, quản trị tài khóa, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển mô hình kinh tế tạo giá trị cao, Nhà nước kiến tạo, thể chế hiện đại, minh bạch, có trách nhiệm giải trình phải là nền tảng cốt lõi. Đây là chuyến tàu lịch sử mà Việt Nam không được bỏ lỡ.

Cải cách thể chế, chuyển hoá cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất là chìa khoá vàng để Việt Nam tăng trưởng cao. “Nếu Việt Nam thực hiện mạnh mẽ cải cách tốc độ tăng trưởng có thể tăng thêm khoảng 2 điểm % mỗi năm, giúp nền kinh tế tiến vững chắc hơn”, theo TS. Schmittmann. Và theo TS. Vũ Thành Tự Anh cần có một nền hành chính công dấn thân, liêm chính, chuyển đổi mô hình quản trị sang quản trị thích ứng, định hướng sứ mệnh phát triển. Ông cũng nhấn mạnh tới những trụ cột nền tảng gồm: Phát huy vai trò, động lực chính của khu vực kinh tế tư nhân; Phát triển khu vực công với khả năng thích nghi và hợp tác liên ngành tốt. Nâng cao ba cấp độ năng lực: năng lực nhà nước, năng lực chính sách (thiết kế và thực thi đồng bộ), năng lực hành chính (chuyên nghiệp, linh hoạt). Nếu thiếu những năng lực này, các cải cách dễ rơi vào tình trạng phân mảnh, ngắn hạn và bị chi phối bởi nhóm lợi ích.

Xem thêm

Doanh nghiệp nhà nước cần một cuộc cải cách thể chế thực chất

Doanh nghiệp nhà nước cần một cuộc cải cách thể chế thực chất

(NB&CL) Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển mới không chỉ dừng lại ở việc khẳng định vai trò chủ đạo, mà quan trọng hơn là định nghĩa lại cách thức thực hiện vai trò này theo hướng “kiến tạo – dẫn dắt – lan tỏa”. Tuy nhiên, để chuyển hóa tư duy thành năng lực thực chất, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) phải vượt qua những mâu thuẫn nội tại kéo dài nhiều năm.
Quảng Trị: Dự án cảng biển 15.000 tỷ đồng “chạy nước rút” để khai thác 2 bến đầu tiên

Quảng Trị: Dự án cảng biển 15.000 tỷ đồng “chạy nước rút” để khai thác 2 bến đầu tiên

(CLO) Dự án cảng nước sâu Mỹ Thủy, “cửa ngõ” logistics chiến lược của tỉnh Quảng Trị trên tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây với vốn đầu tư 15.000 tỷ đồng, đang được triển khai thi công “chạy nước rút” để sớm đưa vào khai thác 2 bến cảng đầu tiên thuộc giai đoạn 1.
Muốn doanh nghiệp Nhà nước bứt phá, phải xóa “nỗi sợ trách nhiệm”

Muốn doanh nghiệp Nhà nước bứt phá, phải xóa “nỗi sợ trách nhiệm”

(NB&CL) Trao đổi với Báo Nhà báo và Công luận, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SBLAW khẳng định: Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước không chỉ là một văn bản định hướng chính trị đơn thuần, mà nó chứa đựng những thay đổi mang tính "vượt rào" về tư duy thể chế.
Doanh nghiệp nhà nước phải vận hành theo logic thị trường

Doanh nghiệp nhà nước phải vận hành theo logic thị trường

(NB&CL) Nghị quyết 79-NQ/TW (Nghị quyết 79) được ban hành trong bối cảnh yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước ngày càng trở nên cấp thiết, khi khu vực này vẫn nắm giữ nguồn lực lớn nhưng hiệu quả chưa tương xứng.
Cỡ chữ bài viết: