Hàng giả len lỏi mọi ngóc ngách, doanh nghiệp tung giải pháp ‘hộ chiếu số’ chống giả toàn diện

(CLO) Để giải quyết tận gốc hàng giả, hàng nhái, Việt Nam cần củng cố thêm hành lang pháp lý, đồng thời xây dựng cơ chế liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng số hóa, vấn nạn hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại đang đặt ra những thách thức lớn đối với niềm tin của người tiêu dùng và uy tín của thương hiệu Việt.

Để đối phó, các doanh nghiệp Việt Nam đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ định danh và truy xuất nguồn gốc, hướng tới minh bạch hóa toàn bộ chuỗi cung ứng - từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng.

Những giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ người tiêu dùng mà còn nâng cao vị thế của hàng Việt trên thị trường quốc tế.

z7097183253964_320d454d64acea9fb5d7fc30f6bdd684.jpg
Hàng giả tràn lan, doanh nghiệp Việt phản công bằng công nghệ định danh. (Ảnh: VV)

Tại Diễn đàn “Công nghệ định danh và truy xuất nguồn gốc - Nâng tầm hàng Việt” do Bộ Công Thương phối hợp tổ chức vào ngày 9/10, ông Nguyễn Hồng Nghi, Giám đốc Trung tâm Giải pháp số doanh nghiệp VNPT nhấn mạnh: Hàng giả, hàng nhái không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, sức khỏe cộng đồng và niềm tin của người tiêu dùng.

Cũng theo ông Nghi cho biết, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), hàng giả chiếm khoảng 3,3% tổng giá trị thương mại toàn cầu, tương đương 500 tỷ USD mỗi năm. Các lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bao gồm dược phẩm, thực phẩm, hàng tiêu dùng nhanh và thiết bị điện tử.

Theo đó, chỉ ra thách thức về công cuộc chống hàng giả trên toàn cầu hiện nay, ông Nghi cho hay, hàng giả làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng, gây thiệt hại ngân sách và ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu quốc gia. Bên cạnh đó, gian lận thương mại xuyên biên giới ngày càng tinh vi.

Đặc biệt là sự thiếu đồng bộ pháp lý giữa các quốc gia, thiếu cơ chế liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý làm giảm hiệu quả giám sát và xử lý vi phạm.

Từ quá trình nghiên cứu, đại diện VNPT cho biết, các quốc gia phát triển đã triển khai nhiều mô hình công nghệ chống hàng giả có hiệu quả.

Cụ thể, liên minh châu Âu áp dụng hệ thống mã định danh thống nhất cho từng hộp thuốc, giúp minh bạch toàn bộ quy trình sản xuất – phân phối - tiêu thụ dược phẩm.

Hoa Kỳ (thông qua FDA) sử dụng các công nghệ tiên tiến như IoT, Blockchain và AI để truy xuất nguồn gốc thực phẩm có nguy cơ cao.

Hay như Nhật Bản triển khai hệ thống AI nhận dạng hình ảnh trong xuất nhập khẩu, giúp kiểm soát chặt chẽ hàng hóa qua biên giới. Trung Quốc xây dựng nền tảng dữ liệu hàng hóa quốc gia, gắn mã định danh duy nhất (UID) cho mọi sản phẩm, kết hợp AI và Blockchain để quản lý và xác thực hàng hóa trên phạm vi toàn quốc.

Trong những tháng đầu năm 2025, các đơn vị, địa phương đã tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, bắt giữ, xử lý hơn 34.000 vụ việc vi phạm.
Hàng giả chiếm khoảng 3,3% tổng giá trị thương mại toàn cầu, tương đương 500 tỷ USD mỗi năm. (Ảnh: ST)

Từ các mô hình trên, ông Nghi nhấn mạnh: Bài học lớn nhất là vai trò trung tâm của Chính phủ trong việc điều phối, chuẩn hóa và đảm bảo tính liên thông dữ liệu.

Đồng thời, người dân - đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp - cần được đặt ở vị trí trung tâm của hệ thống giám sát và phản hồi.

Tại Việt Nam, ông Nghi chia sẻ, vấn đề hàng giả, hàng nhái đang diễn biến phức tạp. Theo báo cáo quý II/2025, lực lượng chức năng đã phát hiện khoảng 50.000 vụ vi phạm, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước.

Hệ thống pháp luật hiện nay gồm nhiều nghị định, thông tư, quyết định và đặc biệt Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia được thành lập nhằm thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong công tác này.

Tuy nhiên, theo VNPT, để giải quyết tận gốc, cần củng cố thêm hành lang pháp lý, đồng thời xây dựng cơ chế liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành.

Hiện, các Bộ như Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Y tế, Nông nghiệp và Môi trường, Tài chính, Quốc phòng đều có hệ thống cơ sở dữ liệu riêng. “Điểm nghẽn lớn nhất là sự rời rạc giữa các nền tảng, chưa có chuỗi dữ liệu thống nhất theo vòng đời sản phẩm từ sản xuất, vận chuyển, lưu thông đến tiêu dùng" - ông Nghi phân tích.

Để giải quyết các thách thức trên, theo ông Nghi, VNPT đã đề xuất mô hình “Liên thông định danh hàng hóa quốc gia”, nhằm quản lý xuyên suốt vòng đời sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng. Mô hình này tập trung vào ba mục tiêu chính:

Thứ nhất, chuẩn hóa mã định danh (UID): Áp dụng mã định danh duy nhất cho mọi sản phẩm trên toàn quốc, tuân theo chuẩn quốc tế GS1.

Thứ hai, liên thông dữ liệu: Tích hợp dữ liệu từ các bộ, ngành, doanh nghiệp và người tiêu dùng để giám sát và cảnh báo gian lận.

Thứ ba, xây dựng nền tảng dữ liệu quốc gia: Hỗ trợ hoạch định chính sách, bảo đảm an ninh kinh tế và củng cố niềm tin người tiêu dùng.

“Hệ thống này tích hợp các công nghệ tiên tiến như Blockchain để đảm bảo tính bất biến của dữ liệu, IoT theo dõi thời gian thực, mã GS1, QR Code và chuẩn EPCIS để định danh và truy xuất sản phẩm. Mỗi sản phẩm sẽ được gắn một hộ chiếu minh bạch, cho phép người tiêu dùng tra cứu toàn bộ hành trình - từ nguồn nguyên liệu, sản xuất, vận chuyển đến điểm bán – chỉ bằng một lần quét mã QR”, ông Nghi nhấn mạnh.

Xem thêm

Ninh Bình: Kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực

Ninh Bình: Kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực

(CLO) Theo báo cáo của Thống kê tỉnh Ninh Bình, tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 của tỉnh tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, du lịch tăng trưởng mạnh; đầu tư công được đẩy nhanh, trong khi đời sống dân cư cơ bản ổn định.
Doanh nghiệp nhà nước cần một cuộc cải cách thể chế thực chất

Doanh nghiệp nhà nước cần một cuộc cải cách thể chế thực chất

(NB&CL) Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển mới không chỉ dừng lại ở việc khẳng định vai trò chủ đạo, mà quan trọng hơn là định nghĩa lại cách thức thực hiện vai trò này theo hướng “kiến tạo – dẫn dắt – lan tỏa”. Tuy nhiên, để chuyển hóa tư duy thành năng lực thực chất, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) phải vượt qua những mâu thuẫn nội tại kéo dài nhiều năm.
E100 Dung Quất trở lại: Mảnh ghép then chốt cho lộ trình xăng E10

E100 Dung Quất trở lại: Mảnh ghép then chốt cho lộ trình xăng E10

(CLO) Trong bối cảnh nhu cầu xăng dầu gia tăng và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất đã hoạt động trở lại với một vai trò mới; nguồn cung E100 ổn định, tạo lợi thế đặc biệt trong pha chế xăng sinh học. Sự phục hồi của nhà máy không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn mở ra triển vọng phát triển bền vững cho chuỗi nhiên liệu sinh học trong nước.
Cần Giờ đẹp mê hoặc trong ngày tranh tài VnExpress Marathon Green Paradise 2026

Cần Giờ đẹp mê hoặc trong ngày tranh tài VnExpress Marathon Green Paradise 2026

(CLO) Không chỉ chinh phục một trong những cung đường đẹp bậc nhất hệ thống VnExpress Marathon, hơn 5.000 runner và hàng ngàn du khách tới Cần Giờ dịp lễ này còn trực tiếp cảm nhận một siêu đô thị đang hiện hình với tốc độ hiếm thấy. Từ rừng Sác xanh ngút ngàn, gió biển khoáng đạt đến đại công trường rực sáng xuyên đêm, Vinhomes Green Paradise đang cho thấy một diện mạo chưa từng có khiến nhiều người không khỏi bất ngờ.
BSR quý I/2026 tăng trưởng mạnh, tổng doanh thu đạt 46.462 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng

BSR quý I/2026 tăng trưởng mạnh, tổng doanh thu đạt 46.462 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng

(CLO) Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (mã chứng khoán: BSR) vừa công bố báo cáo tài chính quý I/2026 với kết quả sản xuất kinh doanh tăng trưởng rất ấn tượng. Theo đó, tổng doanh thu hợp nhất đạt 46.462 tỷ đồng, và lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng - mức cao nhất so với cùng kỳ và vượt xa kỳ vọng của thị trường.
Cỡ chữ bài viết: