Hình tượng “hổ phù” - từ truyền thống tới ứng dụng đương đại

(NB&CL) Hổ phù/La hầu là biểu tượng văn hóa đã được Việt hóa từ hàng trăm năm nay. Tuy nhiên, đến thời điểm này vẫn còn những nhầm lẫn khiến việc ứng dụng chúng vào đời sống gặp khó khăn.

Người Việt “mềm hóa” hình tượng La hầu

Hổ phù là hình tượng trang trí rất phổ biến trong mỹ thuật Việt, chúng xuất hiện tại các công trình đình, chùa, đền, miếu; trong đồ thờ cúng và cả trang phục của người Việt. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy, hổ phù chính là La hầu - một biểu tượng có nguồn gốc từ văn hóa Ấn Độ. Đây là điều được các chuyên gia văn hóa chia sẻ tại tọa đàm “Đồ án Hổ phù - Từ truyền thống tới ứng dụng thiết kế sáng tạo” vừa diễn ra tại Hà Nội.

Theo PGS. TS Trần Trọng Dương (Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội), sau quá trình nghiên cứu, truy nguyên, nhóm của ông đã tìm được đồ án đầu tiên có gắn chữ “hổ phù”, song đây lại là bản vẽ của một học giả người Pháp. “Từ đó, hình tượng này mới có tên gọi “hổ phù” như hiện nay, nhưng theo chúng tôi, đây là một sự nhầm lẫn”, PGS. TS Trần Trọng Dương nhận định.

hinh tuong ho phu tu truyen thong toi ung dung duong dai hinh 1

Hình tượng La hầu. Ảnh: TL

Ông Dương phân tích, “hổ phù” thực chất là tên gọi của một tín vật sử dụng trong quân sự cổ. Đây là một loại phù hiệu có hình đầu hổ, được chia làm hai mảnh. Khi xuất quân, vua giữ một nửa, tướng cầm quân ra trận giữ một nửa. Do vậy, cách gọi “hổ phù” là hiện tượng “biểu tượng thất truyền” - điều không hiếm xảy ra trong văn hóa Việt. Từ đó, PGS. TS Trần Trọng Dương khẳng định, tên gọi chính xác của hình tượng này là La hầu chứ không phải là “hổ phù”.

Đồng tình với quan điểm này, TS. Trần Hậu Yên Thế (Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật) cho rằng, đã có thời điểm văn hóa Việt bị đứt gãy và tiếp nối lại là những người Pháp. Mặc dù rất uyên bác nhưng đâu đó họ vẫn có những “độ vênh”, do đó nhiệm vụ của chúng ta bây giờ là nối lại những đứt gãy đó.

Tác giả cuốn sách “Đi tìm khuôn mặt La hầu” cho biết thêm, hình tượng La hầu có nguồn gốc từ nền văn minh Ấn Độ cổ đại với câu chuyện thần Vishnu chém đứt ngang thân quỷ Rahu khi nó đang uống trộm nước thần trường sinh. Biểu tượng này cũng được tiếp nhận trong văn hóa Khmer và văn hóa Thái Lan. Đặc biệt, khi đi vào văn hóa Phật giáo, với pháp lực vô biên, Đức Phật đã hàng phục được quỷ Rahu, từ đó con quỷ này trở thành biểu tượng cho sự quy thuận, có vai trò bảo vệ Phật pháp trong các đền chùa và canh giữ các không gian thiêng.

Theo TS. Trần Hậu Yên Thế, trong tiến trình phát triển, đã có sự Việt hóa các biểu tượng văn hóa nước ngoài. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện của hình tượng Rahu trong mỹ thuật Việt khá muộn, có thể vào cuối thế kỷ XVIII. Đồng thời, trong văn hóa Việt Nam, hình tượng La hầu có lớp liên quan đến Rahu, có lớp liên quan đến Phật giáo và dáng dấp khá giống với linh vật Rìa hu trong văn hóa Khmer. Dù vậy, các yếu tố tạo hình của người Việt đã bớt đi sự dữ dằn, thay vào đó là xuất hiện các yếu tố “rồng hóa”, “sen hóa”.

“Văn hóa Việt Nam có thể bắt nguồn từ tín ngưỡng con Rồng cháu Tiên, với một hệ sinh thái rồng phong phú, trong khi cộng đồng người Khmer không có quan điểm đó, thành ra hình ảnh liên quan đến quỷ có vẻ sâu đậm hơn”, ông Thế cho hay.

TS. Trần Hậu Yên Thế nhấn mạnh thêm rằng, dấu ấn của người Việt thể hiện rất rõ qua đồ án “sen hóa La hầu”. Đồ án này rất phong phú và xuất hiện ở rất nhiều đình đền, chùa - điều đó đã minh chứng cho sức sáng tạo của ông cha ta.

Nhà sáng tạo “chới với” khi ứng dụng di sản

Nhiều chuyên gia cho rằng, so với các quốc gia trong khu vực, hệ thống biểu tượng của Việt Nam rất phong phú khi tiếp biến cả văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy nhiên, việc đưa ứng dụng di sản truyền thống vào đời sống đương đại vẫn còn nhiều khó khăn. Trong đó, nhà thiết kế Nguyễn Văn Hiệu - Trưởng bộ phận nghiên cứu và phát triển sản phẩm Vạn Thiên Y chia sẻ câu chuyện “vỡ đầu, chảy máu” của mình vừa mới xảy ra gần đây.

Chuyện là, khi tham gia một dự án tạo hình cho phim, anh có sử dụng hình tượng “hổ phù” trong sản phẩm cửa võng, ban thờ. Thế nhưng câu đầu tiên mà anh nhận được từ nhà đầu tư bộ phim là câu chất vấn “tại sao hổ phù mà không thấy dấu hiệu nào của hổ?” Để chiều lòng nhà đầu tư, anh phải “bỏ đi chữ thọ, thêm cái móng to hơn, cho thêm cái vằn, thêm tai”. Sau khi chỉnh sửa, quả nhiên hình tượng giống hổ hơn nhưng không còn nét gì của “hổ phù” nữa. Và cuối cùng, tạo hình đó cũng không được dùng.

Sau đó, nhóm còn đưa thêm một hình tượng Hổ phù/La hầu lên cuốn thư thì nhận được phản hồi “trông ngố quá”… Trước đó, các anh đã từng đưa hình tượng hổ phù lên áo lễ của các bậc cao niên trong lễ hội đình So, lễ hội đền Đô thì nhận được phản hồi khá tích cực. Nhưng cũng hình tượng đó khi đưa lên áo phông cho giới trẻ thì lại trở thành sản phẩm “nửa nạc nửa mỡ” và đây là sản phẩm bán ế nhất của Vạn Thiên Y.

hinh tuong ho phu tu truyen thong toi ung dung duong dai hinh 2

Sập đá cổ đặt trước Tiền đường chùa Bối Khê (Hà Nội) có tạc hình La hầu ngậm chữ Thọ. Ảnh: T.Toàn

Từ thực tế của bản thân, Nguyễn Văn Hiệu cho biết, anh và nhiều bạn trẻ khác đang “chới với” khi ứng dụng những hình tượng mỹ thuật của văn hóa Việt vào sản phẩm sáng tạo. Sản phẩm luôn nhận được những câu phán xanh rờn là “ngô nghê”, là “ngố”. Từ đó, các nhà sáng tạo rất khó trong việc đưa văn hóa Việt vào sản phẩm của mình để hợp thị hiếu của công chúng…

Cũng chia sẻ về một “kinh nghiệm xương máu” để thấy rằng việc đem di sản ứng dụng vào đời sống đương đại không phải là con đường “toàn hoa hồng”, PGS.TS Trần Trọng Dương cho biết, sau khi hoàn thành đồ án phỏng dựng kiến trúc chùa Diên Hựu bằng công nghệ thực tế ảo, nhóm nghiên cứu đã cho ra đời một games trải nghiệm nhập vai. Theo đó, người chơi sẽ đeo kính VR để “xuyên không” từ thế kỷ XXI về thế kỷ XII chiến đấu với các thế lực hắc ám bảo vệ thành Thăng Long. Games được đưa vào không gian một bảo tàng và không chỉ trẻ em mà người lớn cũng “rất mê”. Nhiều em đi taxi đến, tua đi tua lại trò chơi không chán.

“Nhưng các nhà bảo tàng “dựng tóc gáy lên” bảo tại sao các ông lại đưa games vào? Họ không chấp nhận games, mặc dù chúng tôi thiết kế 45 phút thì hết 40 phút nói thế nào là Mandala, thế nào là khảo cổ, bi ký thế nào, các con xem xong mới vào chơi 5 phút games... Vậy là cho đến nay sản phẩm vẫn không thể thương mại hóa”, ông Dương nói.

Xác định còn nhiều khó khăn, nhưng chia sẻ với Báo NB&CL, nhà thiết kế Nguyễn Văn Hiệu cho rằng, thời cơ luôn đi liền với thách thức: “Chúng ta đã có sẵn một kho tàng di sản phong phú, đẹp đẽ, vấn đề là ứng dụng di sản đó thế nào. Bởi lẽ, trong thời đại hiện nay, sự chênh lệch của chất lượng hàng hóa không nhiều, người mua sản phẩm còn vì câu chuyện đằng sau đó nữa. Vậy nên việc đưa giá trị văn hóa vào sản phẩm một cách sáng tạo và kể được câu chuyện văn hóa đó sẽ tạo ra những giá trị khác biệt. Chúng tôi có sai lầm, có thất bại nhưng cũng đã có những sản phẩm thành công”.

Thế Vũ

Xem thêm

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

(NB&CL) Để bảo tàng tư nhân “sống sót” và hoạt động chuyên nghiệp là câu chuyện hoàn toàn không đơn giản. Thực tế tại Việt Nam, không hiếm chuyện chủ nhân bảo tàng rơi vào cảnh “vừa làm chủ, vừa làm nhân viên” vì nguồn lực tài chính hạn hẹp. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Huy (nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người sáng lập Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên), Nhà nước cần có chính sách để thu hút các nguồn lực tài trợ cho hoạt động bảo tàng, từ đó tạo điểm tựa vững chắc cho các bảo tàng tư nhân phát triển bền vững.

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

(NB&CL) Với việc trưng bày các hiện vật đến từ nhiều nền văn hóa, nhiều bảo tàng tư nhân đang thực hiện tiêu chí và thông điệp cốt lõi của UNESCO là góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa các dân tộc, xóa bỏ sự ngăn cách và tệ nạn phân biệt đối xử về văn hóa, tôn vinh các giá trị nhân văn, nhân đạo giữa các dân tộc.

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

(CLO)- Ban tổ chức Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026 vừa chính thức ban hành quy chế sửa đổi với hàng loạt điều chỉnh quan trọng. Việc khôi phục trọn vẹn thể thức hai vòng đấu sau nhiều năm gián đoạn cùng những thay đổi bước ngoặt trong luật phân định thắng thua là những điểm mới cốt lõi nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng chuyên môn cho di sản văn hóa phi vật thể quốc gia này.

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

(CLO) Với người Khmer Nam Bộ, việc vào chùa tu học không đơn thuần là thực hành tín ngưỡng mà còn là cách báo hiếu cha mẹ, rèn luyện đạo đức và đánh dấu bước trưởng thành của một người đàn ông trước khi bước vào cuộc sống gia đình, xã hội.

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

(CLO) Chương trình Phát triển thủ công đương đại trên nền tảng Di sản làng nghề trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 được khởi động với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái kết nối giữa nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, góp phần đưa nguồn lực di sản trở thành động lực cho sáng tạo và phát triển bền vững.

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

(CLO) Lần đầu tiên, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) triển khai dự án truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã mang tên “Vietnam Wild Live - Kết nối thiên nhiên, lan tỏa nhận thức”, đưa những hình ảnh chân thực của hệ sinh thái tự nhiên đến với khán giả trong và ngoài nước.

Cỡ chữ bài viết: