Tốc độ nguồn vốn chảy vào nền kinh tế chưa tương xứng
Năm 2026, Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch đầu tư công lên tới hơn 1,014 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, sau 7 tháng, mới có khoảng 425.300 tỷ đồng được giải ngân, cho thấy một lượng vốn rất lớn vẫn chưa thực sự đi vào nền kinh tế.
Đưa ra nhận định về vấn đề đầu tư công, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, những vướng mắc của đầu tư công không chỉ nằm ở thời điểm giao vốn mà còn đến từ các vấn đề kéo dài trong quá trình triển khai dự án.
Theo ông, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, xác định giá đất và tái định cư vẫn là những điểm nghẽn lớn, đặc biệt với các dự án hạ tầng quy mô lớn. Bên cạnh đó là những vướng mắc về thủ tục đầu tư, thủ tục xây dựng và sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan.
“Đầu tư công vẫn là một trong những điểm cần tiếp tục cải thiện. Dù giá trị giải ngân đã tăng so với cùng kỳ nhưng tỷ lệ thực hiện so với kế hoạch năm vẫn chưa đạt kỳ vọng”, TS. Lê Duy Bình nhận định.
Một vấn đề khác được ông Bình lưu ý là tâm lý e ngại trách nhiệm của một bộ phận cán bộ thực thi. Trong bối cảnh hệ thống pháp luật vẫn còn những điểm chưa đồng bộ, một số cán bộ có xu hướng lựa chọn phương án an toàn để hạn chế rủi ro. Điều này có thể khiến quá trình xử lý hồ sơ và ra quyết định kéo dài.
Theo TS. Lê Duy Bình, khi quy định pháp luật chưa rõ ràng hoặc còn nhiều cách hiểu, người thực thi dễ gặp khó khăn trong việc lựa chọn phương án xử lý, nhất là với những dự án lớn, phức tạp và có sự tham gia của nhiều cơ quan.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao, đầu tư công được kỳ vọng tiếp tục đóng vai trò động lực quan trọng. Nguồn vốn này không chỉ trực tiếp tạo ra hạ tầng mà còn có khả năng mở đường, kích hoạt thêm dòng vốn tư nhân và FDI.
Do đó, theo TS. Lê Duy Bình, yêu cầu đặt ra không chỉ là đẩy nhanh giải ngân trong ngắn hạn mà quan trọng hơn là xử lý các nguyên nhân mang tính căn cơ khiến dự án chậm triển khai.
Điểm tích cực, theo ông là việc Chính phủ đang thể hiện quyết tâm cao trong tháo gỡ các điểm nghẽn. Nhiều quy định pháp luật đang được rà soát, sửa đổi theo hướng tạo thuận lợi hơn cho quá trình triển khai dự án.
“Nếu những thay đổi này được thực thi đồng bộ, rõ ràng và nhất quán, tiến độ giải ngân đầu tư công có thể được cải thiện, qua đó góp phần đưa nguồn lực vào nền kinh tế nhanh hơn”, ông Bình nói.
Theo vị chuyên gia, khi các điểm nghẽn về đất đai, thủ tục và trách nhiệm thực thi được tháo gỡ, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công sẽ được nâng lên. Quan trọng hơn, nguồn vốn này có thể tạo thêm dư địa để kích hoạt các nguồn lực khác trong nền kinh tế.
Bài toán của đầu tư công vì thế không chỉ nằm ở việc có bao nhiêu tiền được bố trí, mà là làm thế nào để số vốn đã được phân bổ thực sự biến thành công trình, hạ tầng và năng lực sản xuất mới. Chỉ khi đó, đầu tư công mới phát huy đầy đủ vai trò “vốn mồi” cho tăng trưởng.
Nhận diện hai vấn đề phổ biến
Để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số, Chính phủ đặt mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công. Tuy nhiên, theo TS. Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội khóa XVI, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, đây là mục tiêu đầy thách thức bởi thực tế cho thấy mỗi dự án đều có những “điểm nghẽn” riêng.
Theo ông Hiếu, không có một nguyên nhân điển hình nào có thể lý giải cho tình trạng chậm giải ngân. Mỗi dự án có quy mô, địa điểm và điều kiện triển khai khác nhau. Ngay cả với công tác giải phóng mặt bằng, dù cùng một khung chính sách nhưng tiến độ giữa các địa phương có thể chênh lệch rất lớn do khác biệt về dữ liệu đất đai, quy trình kiểm đếm, bồi thường, hỗ trợ tái định cư và tổ chức thực hiện.
“Có những trường hợp vướng mắc xuất phát từ những chi tiết rất nhỏ. Không hẳn là do chính sách, cũng không hoàn toàn do người thực thi hay tâm lý e ngại trách nhiệm. Mỗi dự án đều có những đặc thù riêng khiến việc xử lý trở nên phức tạp hơn”, ông Hiếu nói.
Từ khảo sát thực tế, TS. Phan Đức Hiếu cho biết có hai vấn đề nổi lên khá phổ biến và đang trực tiếp ảnh hưởng đến tiến độ triển khai nhiều dự án.
Thứ nhất là nguồn nguyên vật liệu phục vụ thi công, đặc biệt là vật liệu san lấp và đất đắp. Đây là điểm nghẽn không ít dự án gặp phải, trong khi điều kiện khai thác và cung ứng vật liệu giữa các địa phương không giống nhau.
Một số địa phương đã được áp dụng cơ chế đặc thù để tháo gỡ vướng mắc về vật liệu xây dựng và bước đầu cho thấy hiệu quả. Theo ông Hiếu, Chính phủ nên nghiên cứu mở rộng những cơ chế này trên phạm vi cả nước.
“Đây không nhất thiết phải là cơ chế đặc thù cho từng địa phương mà có thể xem là cơ chế đặc thù để thúc đẩy giải ngân đầu tư công nói chung. Nếu giải quyết được bài toán vật liệu xây dựng, tiến độ triển khai nhiều dự án sẽ được cải thiện đáng kể”, ông Hiếu nhận định.
Thứ hai là áp lực từ giá nguyên vật liệu tăng mạnh. Theo phản ánh của nhiều chủ đầu tư và nhà thầu, chi phí xây dựng tăng nhanh đang gây sức ép lớn lên các dự án, đặc biệt với những gói thầu áp dụng đơn giá cố định hoặc hợp đồng trọn gói.
Trong trường hợp phù hợp, Nhà nước cần nghiên cứu cơ chế chia sẻ một phần chi phí tăng thêm để giảm áp lực cho doanh nghiệp thực hiện dự án. Với các loại hợp đồng được phép điều chỉnh đơn giá, việc cập nhật giá cũng cần kịp thời hơn, bám sát diễn biến thực tế tại từng địa phương.
“Đây là những vấn đề mà địa phương rất khó tự giải quyết. Nếu tháo gỡ được hai điểm nghẽn này, tốc độ giải ngân đầu tư công chắc chắn sẽ được cải thiện”, ông Hiếu nhấn mạnh.
Ở góc nhìn khác, TS. Nguyễn Minh Thảo cho rằng bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, các địa phương phải chủ động hơn trong tháo gỡ khó khăn. Hành lang pháp lý về cơ bản là như nhau, nhưng có nơi triển khai tốt, có nơi lại rất chậm. Điều này cho thấy năng lực tổ chức thực hiện và sự chủ động của địa phương có vai trò quyết định.
Theo bà Thảo, việc Thủ tướng ban hành cơ chế chấm điểm giải ngân đầu tư công và gắn chỉ tiêu tăng trưởng với trách nhiệm người đứng đầu sẽ tạo thêm áp lực tích cực, thúc đẩy các địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, đầu tư công tiếp tục được kỳ vọng là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tế nhiều năm cho thấy quy mô vốn lớn chưa đủ tạo ra đột phá nếu tiến độ giải ngân chậm và hiệu quả sử dụng vốn chưa cao.
“Điều cần hướng tới không chỉ là giải ngân hết kế hoạch, mà là lựa chọn đúng dự án, triển khai đúng tiến độ và tạo được hiệu ứng lan tỏa để thu hút đầu tư tư nhân, FDI và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”, TS. Nguyễn Minh Thảo khuyến nghị.
Khi đó, đầu tư công mới thực sự phát huy vai trò “vốn mồi”, mở đường cho các nguồn lực xã hội cùng tham gia phát triển, thay vì chỉ được nhìn nhận như một công cụ kích cầu trong ngắn hạn.