Làng nghề đúc lò bằng đất sét tại An Giang: Nỗi lo bị mai một

(CLO) Tồn tại hơn 80 năm, làng nghề đúc lò (làm bếp lò) bằng đất sét ở xã Phú Thọ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện chỉ còn vài hộ hoạt động, im lìm so với cảnh nhộn nhịp khói lửa như trước.

Nghề “dậy khi gà chưa gáy, nghỉ khi đèn đã soi”

Khoảng 4h sáng, ông Đặng Thái Bình (53 tuổi) cùng một số hộ dân xung quanh thức dậy để tranh thủ chuẩn bị nguyên liệu cho những chiếc lò đúc đầu tiên trong ngày. 

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 1

Bài liên quan

Về An Giang ghé thăm làng nghề nhang

Ghé thăm làng nghề đan đó 200 tuổi ở Hưng Yên

Khám phá làng nghề làm cốm mộc độc đáo ở Hà Nội

Khát vọng nâng tầm làng nghề Việt!

Ông Bình chia sẻ, bản thân ông đã làm nghề này hơn 20 năm - thâm niên “nhỏ nhất” trong số các hộ còn theo nghề đúc lò.

Người thợ đúc lò hành nghề không giống như nhiều nghề khác. Mặc cho cơ giới hóa giúp cuộc sống thay đổi, họ vẫn giữ vững truyền thống làm thủ công, không có sự can thiệp của máy móc.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 2

Người thợ chuẩn bị nguyên liệu trực tiếp bằng tay.

Vì thế, có thể nói công việc này dù trải qua gần 1 thập kỷ, người thợ vẫn phải chịu cảnh cực nhọc để tạo ra những sản phẩm chất lượng nhất.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 3

Để làm ra một chiếc lò hoàn thiện, ông Bình cho biết phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp, đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn và sức khỏe bền bỉ.

Trước hết, nguyên liệu đất sét và cát sẽ được các thương lái tại Kiên Giang chuyển đến cho các hộ dân tại đây. Một đợt chở, ông Bình sẽ nhận đất sét từ 6 ghe, mỗi ghe nặn được khoảng 50 lò.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 4

Ông Bình kiểm tra nguyên liệu trước khi nặn lò đúc.

Sau đó, thợ làm đất chuẩn bị nguyên liệu chế tạo lò đúc và các sản phẩm khác. Bằng bàn tay điêu luyện, “làm nhiều rồi quen”, những chiếc bếp lò truyền thống sẽ được tạo hình, qua chiếc khuôn xi măng, thợ sẽ nặn hình lò và để trong khuôn 3 đến 4 ngày mới bắt đầu mở khuôn.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 5

Mỗi chiếc lò đều được người thợ nặn trực tiếp bằng tay, để cảm nhận độ dẻo của đất.

Tiếp đó, những chiếc lò được đem đi phơi nắng trong vài giờ rồi người thợ bắt đầu giai đoạn gắn miệng lò và chỉnh sửa lò lại lần cuối để thành một sản phẩm hoàn chỉnh.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 6

Chiếc lò sau khi nặn từ khuôn, sẽ được người thợ cắt gọt và đánh bóng.

Khi hoàn tất việc tạo hình một chiếc lò hoàn chỉnh, người thợ đem những chiếc lò phơi nắng một lần nữa trước khi bỏ vào lò nung. Phải sau khi phơi đủ nắng những chiếc lò mới được nung lên nhằm đảm bảo chất lượng. 

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 7

Nếu gặp nắng ở mức độ cao, người thợ phải che màng để giảm nhiệt tiếp xúc nhằm đảm bảo việc phơi phải đều cho sản phẩm.

Mỗi chiếc lò phải được đưa vào lò nung, bằng cách lấp trấu và rơm bên trên, khi nào thấy lửa cháy trên bề mặt thì ngưng, chờ cho nguội khoảng 3-4 ngày. Thời gian này người thợ canh lửa rất kỹ vì giai đoạn này rất quan trọng cũng là giai đoạn có thể xem khó nhất khi làm lò.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 8

Công đoạn nung lò được xem là quan trọng nhất.

“Hai nỗi sợ của người làm lò đúc là trời mưa và lò nung. Nung quá lửa, lò sẽ bị nứt còn nếu không đủ lửa lò sẽ không lên màu đẹp. Còn trời mưa bất chợt, chúng tôi phải nhanh chân che chắn ngay nếu không sẽ hỏng. Nhiều lúc đang ăn cơm trong nhà cũng phải bỏ ngang để chạy ra. Một khi đã hỏng thì phải bỏ, mà bỏ thì lỗ vốn”, ông Bình tâm sự.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 9

Lò đúc tại đây chia làm nhiều loại, tùy thuộc vào kích cỡ có giá dao động từ 30.000 đến 50.000 đồng.

Trung bình, cơ sở của ông Bình tạo ra khoảng 70 sản phẩm, khoảng 2000 cái/tháng. Cơ sở của ông Bình có 3 nhân công, tính thêm vợ chồng ông làm 5 người, làm hì hục từ sáng đến tối muộn.

“Nghề này không có nghỉ trưa cố định, làm tới khi nào mệt thì thôi. Trời tối thì đi vào mở đèn cho sáng rồi làm tiếp, có khi 4 giờ sáng làm tới 7, 8h tối mới nghỉ. Nghề này cực lắm, chỉ đủ sống qua ngày thôi nhưng không làm thì biết làm nghề gì kiếm sống. Ông bà truyền nghề lâu rồi, đó giờ xung quanh đây cũng sống bằng nghề đúc lò”, ông Bình nói.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 10

Người thợ tranh thủ ngồi nghỉ trước khi tiếp tục công việc.

Trong khoảng thời gian chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, gia đình ông và nhiều hộ dân khác đều phải tạm ngưng làm việc. May mắn, sau khi hoạt động trở lại, giờ đây lượng hàng hóa xuất ra cũng đã hồi phục được như trước, mặc dù lượng tàu thuyền tấp vào không quá đông. Các hộ dân cũng chỉ hi vọng thời gian gần Tết, các thương lái sẽ đến mua nhiều hơn.

“Yêu nghề nhưng không biết truyền cho ai”

Được truyền nghề từ thời ông cha, ông Bình và vợ luôn ý thức phải giữ vững lửa nghề. Nhưng “đau đầu” ở chỗ, nghề này quá vất vả khiến ông luôn trăn trở không biết… truyền cho ai.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 11

Những chiếc lò đúc thành phẩm.

“Xã hội giờ phát triển, tụi nhỏ cũng không thích làm công việc nặng nhọc mà ba cọc ba đồng thế này nữa. Chúng tôi cũng không thể ép, cứ cố gắng giữ nghề tới khi nào hết sức thì thôi”, ông Bình chia sẻ.

Trò chuyện với bà Sáu (72 tuổi) - người có thâm niên làm nghề lâu nhất còn lại ở khu vực này cho biết, hiện nay có khoảng 5 - 6 hộ dân còn làm nghề lò đúc, đa phần đã nghỉ bớt do không trụ được qua dịch, cũng như không có người truyền nối.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 12

Bà Sáu là một trong những người lớn tuổi hiếm hoi còn theo nghề.

Hàng ngày, bà Sáu tiếp nhận công việc làm vỉ nướng than bằng đất sét để giao cho các cơ sở làm lò nướng, bởi công việc này tương đối đỡ vất vả hơn, cho phép sức khỏe của bà thực hiện.

Gia đình bà Sáu thuộc diện khó khăn, bà phải nuôi hết thảy 3 người già trong nhà, trong đó, em gái của bà hiện đang bị tâm thần, không còn tỉnh táo. Riêng con bà đang làm ăn xa, do không đủ sức khỏe theo nghề nên công việc này chỉ còn bà Sáu và một số nhân công làm việc. Dù đã lớn tuổi, bà Sáu vẫn chưa từng nghĩ sẽ bỏ nghề mà vẫn duy trì với phương châm “làm được tới đâu thì hay tới đó”.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 13

Hoàn cảnh khó khăn của bà Sáu, khi phải lao động ở tuổi 72, nuôi 3 thành viên trong gia đình.

Có thể nói, không chỉ chịu nắng, mưa, cường độ làm việc cao, người thợ còn phải đối mặt với nhiều vấn đề ảnh hưởng tới sức khỏe. Chẳng hạn như công đoạn nung lò, lửa nóng hừng hực, khói bốc lên cao, nếu ai không quen thì liền bị cay mắt, ho sặc sụa.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 14

Chỉ có ai thành thạo mới có thể chịu đựng khói lửa ở lò nung.

Song, động lực và tự hào của người dân miền Tây chính là sản phẩm được xuất hiện trên thị trường. Tồn tại qua nhiều thế hệ, thời hoàng kim, những chiếc lò và các sản phẩm đúc bằng đất sét của làng nghề này đã từng có mặt khắp các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, thậm chí là các tỉnh miền Trung.

lang nghe duc lo bang dat set tai an giang noi lo bi mai mot hinh 15

Sản phẩm lò đúc ngày càng được ưa chuộng bởi độ bền.

Trong bối cảnh nhu cầu sử dụng bếp lò của người dân ngày càng ít, để tồn tại, làng nghề phải thích ứng trong việc đa dạng sản phẩm làm từ đất sét theo nhu cầu của khách hàng.

Xem thêm

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

(NB&CL) Giữa tháng 5 năm 2026, tôi tìm trên giá sách riêng, tập hợp được hơn chục tác phẩm của nhà văn, nhà báo Nguyễn Khắc Phê. Cuốn sách xuất bản gần đây nhất in 1500 bản của ông ra mắt đầu năm 2026 có tựa đề “Quảng Trị - Vùng đất hội tụ” (Nhà Xuất bản Hội Nhà văn).

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

(NB&CL) Để bảo tàng tư nhân “sống sót” và hoạt động chuyên nghiệp là câu chuyện hoàn toàn không đơn giản. Thực tế tại Việt Nam, không hiếm chuyện chủ nhân bảo tàng rơi vào cảnh “vừa làm chủ, vừa làm nhân viên” vì nguồn lực tài chính hạn hẹp. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Huy (nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người sáng lập Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên), Nhà nước cần có chính sách để thu hút các nguồn lực tài trợ cho hoạt động bảo tàng, từ đó tạo điểm tựa vững chắc cho các bảo tàng tư nhân phát triển bền vững.

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

(NB&CL) Với việc trưng bày các hiện vật đến từ nhiều nền văn hóa, nhiều bảo tàng tư nhân đang thực hiện tiêu chí và thông điệp cốt lõi của UNESCO là góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa các dân tộc, xóa bỏ sự ngăn cách và tệ nạn phân biệt đối xử về văn hóa, tôn vinh các giá trị nhân văn, nhân đạo giữa các dân tộc.

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

(CLO)- Ban tổ chức Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026 vừa chính thức ban hành quy chế sửa đổi với hàng loạt điều chỉnh quan trọng. Việc khôi phục trọn vẹn thể thức hai vòng đấu sau nhiều năm gián đoạn cùng những thay đổi bước ngoặt trong luật phân định thắng thua là những điểm mới cốt lõi nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng chuyên môn cho di sản văn hóa phi vật thể quốc gia này.

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

(CLO) Với người Khmer Nam Bộ, việc vào chùa tu học không đơn thuần là thực hành tín ngưỡng mà còn là cách báo hiếu cha mẹ, rèn luyện đạo đức và đánh dấu bước trưởng thành của một người đàn ông trước khi bước vào cuộc sống gia đình, xã hội.

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

(CLO) Chương trình Phát triển thủ công đương đại trên nền tảng Di sản làng nghề trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 được khởi động với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái kết nối giữa nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, góp phần đưa nguồn lực di sản trở thành động lực cho sáng tạo và phát triển bền vững.

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

(CLO) Lần đầu tiên, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) triển khai dự án truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã mang tên “Vietnam Wild Live - Kết nối thiên nhiên, lan tỏa nhận thức”, đưa những hình ảnh chân thực của hệ sinh thái tự nhiên đến với khán giả trong và ngoài nước.

Cỡ chữ bài viết: