Màu xanh - Bài thơ của đối thoại văn hóa!

Kỷ niệm ngày 27/7, nhà báo, nhà thơ Nguyễn Hồng Vinh vừa có bài thơ thể hiện nỗi nhớ thương, lòng tri ân đối với các liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết “Màu xanh- Bài thơ của đối thoại văn hóa” của PGS.TS Nguyễn Thanh Tú về chủ đề này:
Bộ đội nguỵ trang hành quân ở Trường Sơn.

Bộ đội nguỵ trang hành quân ở Trường Sơn.

Đêm hè sáng trăng vằng vặc

Thơ anh sao gọi “trăng xanh”

Có phải chúng mình dạo bước

Dưới điệp trùng tán cây xanh?

Màu xanh - ân nhân đời anh

Năm tháng Trường Sơn bom đạn

Căn hầm cạnh cây cổ thụ

Thoát nạn nhờ tán cây xanh!

Đồng đội nằm dọc cánh rừng

Bao năm kiếm tìm đằng đẵng

Nghĩa trang xây cạnh rừng xanh

Còn bao liệt sĩ vô danh?

Trải qua mưa nắng, bão giông

Xương các anh xanh trong đất

Hoa độc lập, ngát cây xanh

Linh khí sinh sôi trái ngọt!

Cây xanh rợp bóng nghĩa trang

Dòng người viếng anh rơi lệ

Vong linh anh thanh thản nhé

Mầu xanh mát đất anh nằm!

Nguyễn Hồng Vinh

Dịp kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ

Tháng 7/2021

Hẳn nhiên, một tác phẩm văn chương là một đối thoại, nhưng để là một đối thoại văn hóa thì không phải nhiều. Phải hay, phải đặc sắc, từ tiếng nói một người, trở thành tiếng nói đồng cảm của nhiều người, nhất là phải vươn lên tầm phổ quát đối thoại với thời đại, với nhân tính nói chung. Bài thơ Màu xanh của nhà thơ Nguyễn Hồng Vinh là một bài thơ như vậy!

Bài thơ ngắn 5 khổ, mỗi khổ 4 câu, đi nhịp 6 chữ, nhưng đã làm một cây cầu đối thoại từ hiện tại ngược về quá khứ. Khổ 1 là cái mố cầu hiện tại, có không gian, thời gian, nhân vật, có tác dụng chuẩn bị cho bạn đọc một tư tưởng, một “tinh thần hành trình” để đến với cái đích thẩm mỹ là “màu xanh”. Đó là cái cớ nghệ thuật tạo cho độc giả một tâm thế tiếp nhận. Khổ 2 là “anh” đối thoại với chính mình, đúng hơn là với “ân nhân” thời chiến tranh: “Màu xanh - ân nhân đời anh/ Năm tháng Trường Sơn bom đạn/ Căn hầm cạnh cây cổ thụ/ Thoát nạn nhờ tán cây xanh!”.

Ai đã từng làm lính trực tiếp chiến đấu càng thấy đây không chỉ nói cho riêng “anh”, mà cho rất nhiều người, nhất là những đồng đội, những người lính từng xông pha trên chiến trường, đặc biệt lúc tác chiến, gặp được một gốc cây, một hốc đá... thì cảm thấy như được trở về nhà mình vậy!

Không chỉ được che chắn an toàn, mà vị trí ấy còn giúp người lính quan sát cụ thể tình hình chiến tuyến để chọn hành vi thích hợp tiếp sau. Lời thơ ở đây thực ra là lời kể, nhưng nhờ tính truyền cảm cao, làm người đọc quên đi cảm giác “kể”, để chỉ còn sự tập trung hướng vào “tán cây xanh” như có phép màu che chắn, đem lại sự an toàn cho người lính trong tình huống bom rơi, đạn nổ.

Máy bay ném bom rải thảm trong chiến tranh Việt Nam.

Máy bay ném bom rải thảm trong chiến tranh Việt Nam.

Ai cũng rõ, trong chiến tranh, sự mất mát, hy sinh là không thể tránh. Có người về, có người ở lại vĩnh viễn trong lòng đất! Nếu ở khổ thơ trên nói về người còn sống, thì ở khổ 2 này nói về người đã khuất, tứ thơ bật ra một cách tự nhiên: “Đồng đội nằm dọc cánh rừng/ Bao năm kiếm tìm đằng đẵng/ Nghĩa trang xây cạnh rừng xanh/ Còn bao liệt sĩ vô danh?”.

Cũng nhờ logic nghệ thuật ấy, mà khổ này là sự đối thoại với nhiều đối tượng: với đồng đội còn sống; với rừng xanh; với “liệt sĩ vô danh”. Tưởng như một vô tình câu chữ, nhưng lắng sâu trong đó là nước mắt, là nỗi đau! Ý thơ nhức nhối bật ra giữa cấu trúc hai câu: “Nghĩa trang xây cạnh rừng xanh/ Còn bao liệt sĩ vô danh?”.

Các Liệt sĩ đã hy sinh thân mình vì nước, có người còn được về nằm cạnh đồng đội, được an ủi phần nào. Còn bao Liệt sĩ đâu tìm được hài cốt, trở thành vô danh? Lời thơ hướng về các vong linh vô danh, một sự cảm thông, như một lời ghi nhận, một lời khẳng định: họ có thể mất đi thân xác, nhưng với Tổ quốc, nhân dân, đất đai xứ sở này, họ là những anh hùng xứng đáng được tôn vinh: “Trải qua mưa nắng, bão giông/ Xương các anh xanh trong đất/ Hoa độc lập, ngát cây xanh/ Linh khí sinh sôi trái ngọt!”.

Câu cuối ca ngợi hai lần hy sinh của các Liệt sĩ: “Linh khí sinh sôi trái ngọt!”. Khi sống các anh chiến đấu vì độc lập, tự do của đất nước. Mất đi, các anh lấy thân thể mình làm giàu cho đất đai xứ sở. Phải là người có nỗi đau thật sự, đồng cảm, sẻ chia thật sự, xót xa thật sự, mới có cái nhìn mang sự khám phá ở chiều sâu ấy!

Người viếng mộ tại nghĩa trang Trường Sơn.

Người viếng mộ tại nghĩa trang Trường Sơn.

Màu xanh là mã văn hóa ngàn đời nay, biểu tượng cho sự yên bình và thanh thản, cho sự sống vĩnh cửu, cho tình yêu và hy vọng. Màu xanh nơi nghĩa trang thể hiện sinh động những ý nghĩa nhân văn ấy: “Cây xanh rợp bóng nghĩa trang/ Dòng người viếng anh rơi lệ/ Vong linh anh thanh thản nhé/ Màu xanh mát đất anh nằm!”. Câu thơ cuối bài chuyển nghĩa thật ấn tượng: “Màu xanh mát đất anh nằm!”. Ở đây, “Màu xanh” được cấp thêm nghĩa mới, là đất đai Tổ quốc, là đất nước, thiên nhiên, là ý nghĩa tái sinh, là sự trường tồn. Một sự an ủi nhói buốt, một thông điệp thẳm sâu: Với đất nước mình, đâu cũng là Màu Xanh; và chính sự hy sinh của các anh, đất nước đang lan rộng màu xanh sự sống hôm nay, từ Trường Sơn đến Trường Sa cuộn sóng. 

thuong-binh-liet-sy1

Bật ra một đối thoại văn hóa với hôm nay: Uống nước nhớ nguồn là đạo lý của dân tộc ta. Đó là nguồn cội để làm nên trường tồn cuộc sống. Những tác phẩm nói lên nỗi lòng nhiều người sẽ trở thành “mẫu số chung”, sẽ là tài sản tinh thần, là hành trang văn hóa cho mỗi con người vững tin đi tới tương lai! Theo tôi, bài thơ này là một thi phẩm như vậy!

Theo Nguyễn Thanh Tú (Tạp chí Người làm báo)

Xem thêm

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

(NB&CL) Giữa tháng 5 năm 2026, tôi tìm trên giá sách riêng, tập hợp được hơn chục tác phẩm của nhà văn, nhà báo Nguyễn Khắc Phê. Cuốn sách xuất bản gần đây nhất in 1500 bản của ông ra mắt đầu năm 2026 có tựa đề “Quảng Trị - Vùng đất hội tụ” (Nhà Xuất bản Hội Nhà văn).

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

(NB&CL) Để bảo tàng tư nhân “sống sót” và hoạt động chuyên nghiệp là câu chuyện hoàn toàn không đơn giản. Thực tế tại Việt Nam, không hiếm chuyện chủ nhân bảo tàng rơi vào cảnh “vừa làm chủ, vừa làm nhân viên” vì nguồn lực tài chính hạn hẹp. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Huy (nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người sáng lập Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên), Nhà nước cần có chính sách để thu hút các nguồn lực tài trợ cho hoạt động bảo tàng, từ đó tạo điểm tựa vững chắc cho các bảo tàng tư nhân phát triển bền vững.

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

(NB&CL) Với việc trưng bày các hiện vật đến từ nhiều nền văn hóa, nhiều bảo tàng tư nhân đang thực hiện tiêu chí và thông điệp cốt lõi của UNESCO là góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa các dân tộc, xóa bỏ sự ngăn cách và tệ nạn phân biệt đối xử về văn hóa, tôn vinh các giá trị nhân văn, nhân đạo giữa các dân tộc.

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

(CLO)- Ban tổ chức Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026 vừa chính thức ban hành quy chế sửa đổi với hàng loạt điều chỉnh quan trọng. Việc khôi phục trọn vẹn thể thức hai vòng đấu sau nhiều năm gián đoạn cùng những thay đổi bước ngoặt trong luật phân định thắng thua là những điểm mới cốt lõi nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng chuyên môn cho di sản văn hóa phi vật thể quốc gia này.

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

(CLO) Với người Khmer Nam Bộ, việc vào chùa tu học không đơn thuần là thực hành tín ngưỡng mà còn là cách báo hiếu cha mẹ, rèn luyện đạo đức và đánh dấu bước trưởng thành của một người đàn ông trước khi bước vào cuộc sống gia đình, xã hội.

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

(CLO) Chương trình Phát triển thủ công đương đại trên nền tảng Di sản làng nghề trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 được khởi động với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái kết nối giữa nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, góp phần đưa nguồn lực di sản trở thành động lực cho sáng tạo và phát triển bền vững.

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

(CLO) Lần đầu tiên, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) triển khai dự án truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã mang tên “Vietnam Wild Live - Kết nối thiên nhiên, lan tỏa nhận thức”, đưa những hình ảnh chân thực của hệ sinh thái tự nhiên đến với khán giả trong và ngoài nước.

Cỡ chữ bài viết: