Theo báo cáo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiện nay, Quốc hội, Chính phủ đang lập nhiều kế hoạch, đề án để cắt giảm, đơn giản hóa chi phí tuân thủ trong các quy định liên quan đến kinh doanh. Thế nhưng, các chính sách đang soạn thảo và dự kiến ban hành hoặc đã ban hành lại có tình trạng gia tăng chi phí, gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Đơn cử, trong năm 2021, cơ quan nhà nước đã soạn thảo dự thảo Nghị định về kinh doanh vận tải nội bộ, trong đó đặt ra các yêu cầu xe ô tô vận tải nội bộ phải lắp thiết bị giám sát hành trình theo lộ trình; doanh nghiệp phải có giấy phép hoạt động vận tải nội bộ khi sử dụng một số loại ô tô vận tải nội bộ nhất định.
Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
Theo quy định này, giả sử chi phí lắp đặt thiết bị khoảng 1,5 triệu đồng/xe/thiết bị. Dự kiến có khoảng 400.000 xe phải lắp.
Như vậy, chỉ riêng về chi phí cho thiết bị, tổng chi phí cho số xe phải lắp ước tính khoảng 600 tỷ đồng. Chi phí này chưa phản ánh đầy đủ thực tế xã hội phải bỏ ra, chưa tính các chi phí về đường truyền, nhân sự xử lý thông tin; các chi phí cơ quan nhà nước phải bỏ ra để thực hiện quản lý…
Đối với một số doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề kinh doanh có điều kiện và có hoạt động vận tải nội bộ thì việc yêu cầu lắp thêm thiết bị giám sát hành trình cũng như xin giấy phép hoạt động vận tải nội bộ sẽ gia tăng chi phí và tạo gánh nặng rất lớn về thủ tục hành chính.
Trong khi đó còn rất nhiều vấn đề phải bàn về việc cấp giấy phép vận tải nội bộ (từ xác định tính chất của loại giấy phép này đến tính thống nhất với quy định của Luật Đầu tư 2020 cũng như tính hợp lý trong xác định mục tiêu quản lý nhà nước).
Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam: Như vậy, về định hướng và cách thực hiện triển khai các quy định đang có sự nghịch lý. Điều này khiến cho hoạt động cải thiện môi trường kinh doanh trở nên thiếu thống nhất và chưa thực sự hiệu quả.
Sau hơn 2 năm chống dịch, nhiều quy định pháp luật đã bộc lộ sự chưa phù hợp và làm khó doanh nghiệp. Nhiều quy định chưa theo kịp thực tiễn.
Ngoài nghịch lý nêu trên, ông Tuấn cho biết, sau hơn 2 năm chống dịch, nhiều quy định pháp luật đã bộc lộ sự chưa phù hợp và làm khó doanh nghiệp. Nhiều quy định chưa theo kịp thực tiễn.
Minh chứng cho quan điểm của mình, ông Tuấn dẫn lại quy định về giờ làm thêm trong doanh nghiệp.
Theo quy định của Bộ luật Lao động 2019, giới hạn làm thêm giờ không quá 200 giờ/năm, đối với một số ngành, nghề đặc thù là không quá 300 giờ/năm, số giờ làm thêm được khống chế chặt không quá 40 giờ/tháng.
Theo ông Tuấn trong giai đoạn dịch bệnh bùng phát, doanh nghiệp đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn lao động do người lao động bị cách ly do nhiễm COVID-19, người lao động bỏ việc về quê…
“Khi trở lại sản xuất, nhu cầu tăng ca, tăng giờ làm việc để hoàn thành đơn hàng, giữ được khách hàng là rất cấp bách. Yêu cầu giới hạn về giờ làm thêm như quy định hiện hành khiến cho doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn”, ông Tuấn nói.
Ngoài ra, ông Tuấn cũng lấy ví dụ về việc gia hạn giấy chứng nhận lưu hành đối với thuốc, nguyên liệu làm thuốc.
Theo đó, Luật Dược quy định giấy đăng ký lưu hành thuốc có giá trị 05 năm kể từ ngày cấp. Khi hết hạn, doanh nghiệp phải thực hiện việc gia hạn giấy phép đăng ký lưu hành.
Khảo sát của VCCI cho thấy, trong thời kỳ dịch bệnh COVID-19, việc gia hạn giấy chứng nhận lưu hành gặp nhiều khó khăn bởi: doanh nghiệp thiếu nhân sự để chuẩn bị hồ sơ, do yêu cầu làm việc giãn cách; nhiều giấy tờ trong hồ sơ phải chứng thực, hợp pháp hóa lãnh sự tại nước sở tại. Ở các nước này do ảnh hưởng của dịch COVID19, nhiều trường hợp không làm việc hoặc làm việc giãn cách.
Do đó, ông Tuấn nhấn mạnh doanh nghiệp có được các loại giấy tờ này là khó khăn; biện pháp hạn chế đi lại khiến cho việc nộp hồ sơ của doanh nghiệp gặp khó; các giấy tờ như GMP (giấy chứng nhận thực hành tốt sản xuất thuốc), CPP (giấy chứng nhận sản phẩm dược phẩm), GDP (giấy chứng nhận thực hành tốt phân phối thuốc) của doanh nghiệp chưa được cấp mới, cấp lại vì cơ quan quản lý chưa tổ chức kiểm tra, đánh giá do dịch bệnh.
Điều này, theo ông Tuấn sẽ khiến cho doanh nghiệp không thể hoàn thành các thủ tục cấp phép, bị ngừng trệ hoạt động kinh doanh và làm gián đoạn hoạt động cung ứng hàng hóa (ví dụ như trang thiết bị y tế nhập khẩu), ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động khám chữa bệnh, phòng chống dịch.
Để giải quyết vấn đề này, đại diện VCCI cho rằng các nhà làm chính sách cần thiết phải xem xét lại một cách toàn diện để nhận diện: những vấn đề nào chỉ phù hợp trong thời kỳ dịch bệnh, cần có cơ chế để điều chỉnh quy định trong khoảng thời gian này; những vấn đề nào cần phải điều chỉnh lại ngay cả khi mọi thứ quay trở lại bình thường, cần phải sửa đổi bổ sung hoặc thay thế quy định.