+Các số liệu thống kê vừa công bố đang phản ánh những chuyển động nào của nền kinh tế mà có thể chưa nhìn thấy ngay bằng cảm nhận thông thường?
-Sáu tháng đầu năm 2026 ghi nhận một cột mốc rất đáng chú ý khi GDP tăng 8,18% - mức tăng cao nhất kể từ năm 2000, thời điểm Việt Nam bắt đầu công bố số liệu tăng trưởng sáu tháng. Đây là kết quả rất tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn nhiều bất định, cho thấy sức chống chịu của nền kinh tế cũng như hiệu quả điều hành chính sách vĩ mô.
Động lực tăng trưởng tiếp tục đến từ khu vực dịch vụ và công nghiệp chế biến, chế tạo. Thương mại quốc tế duy trì vai trò đầu tàu với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 27,1%; xuất khẩu quý II tăng 22,7%; chỉ số PMI duy trì trên 50 điểm suốt 12 tháng liên tiếp. Những con số này phản ánh năng lực sản xuất và khả năng đáp ứng đơn hàng của doanh nghiệp vẫn được duy trì.
Tuy nhiên, tăng trưởng cao mới phản ánh kết quả về lượng. Điều quan trọng hơn là phải nhìn vào chất lượng tăng trưởng và các cân đối lớn của nền kinh tế. Chính trong thời điểm bức tranh vĩ mô đang sáng màu nhất, chúng ta càng cần nhìn thẳng vào những vấn đề cơ cấu đang tích tụ phía sau để đánh giá đúng sức khỏe của nền kinh tế và xác định những động lực phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
+Đâu là những vấn đề đang tích tụ sau bức trang sáng đó mà ông thấy cần phải chú ý?
-Theo tôi, hiện có năm nhóm vấn đề cần được đặc biệt quan tâm: Cân đối xuất nhập khẩu: Sáu tháng đầu năm, Việt Nam nhập siêu khoảng 16,65 tỷ USD - mức cao chưa từng có, tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá, dự trữ ngoại hối và ổn định kinh tế vĩ mô.
Cân đối tiền tệ - tín dụng: Hệ thống ngân hàng vẫn gánh phần lớn vai trò cung ứng vốn, trong khi thị trường vốn phát triển chậm, làm gia tăng rủi ro kỳ hạn. Vấn đề đặt ra không chỉ là huy động đủ vốn cho tăng trưởng, mà là huy động vốn bằng kênh nào để không dồn toàn bộ rủi ro kỳ hạn và rủi ro hệ thống về phía các ngân hàng thương mại.
Cân đối ngân sách và đầu tư công: Nợ công thấp (khoảng 32% GDP), nhưng quy mô thu ngân sách trên GDP còn thấp, dư địa thu ngân sách không còn rộng như trước. Các nguồn thu truyền thống như dầu thô, thu từ vốn, thu từ đất đai đang giảm và khó dự đoán.
Cân đối tiết kiệm - đầu tư: Xét trên toàn nền kinh tế, tiết kiệm đang lớn hơn đầu tư, nhưng phần thặng dư chủ yếu đến từ khu vực FDI. Khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn thiếu tích lũy, khiến nhu cầu vốn tiếp tục phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Đây là một trong những nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất khó giảm.
Sức khỏe của khu vực doanh nghiệp: khu vực này chịu tác động trực tiếp của chi phí vốn, tỷ giá và những biến động thương mại toàn cầu. 6 tháng có 105.526 doanh nghiệp thành lập mới nhưng có 151.067 doanh nghiệp rời thị trường trong 6 tháng. Đây là chỉ báo quan trọng về sức khỏe thực của nền kinh tế. Chỉ báo này quan trọng không kém gì các chỉ số GDP hay xuất khẩu.
Năm vấn đề này liên kết chặt chẽ với nhau và đều phản ánh chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Vì vậy, cần tiếp cận các vấn đề này như một bài toán cân đối vĩ mô tổng thể chứ không thể xử lý riêng lẻ. Nếu không xử lý đồng bộ, những mất cân đối này có thể trở thành rào cản đối với mục tiêu tăng trưởng cao trong các năm tới.
+ Sau một thời gian dài xuất siêu, cán cân thương mại đã đảo chiều, chuyển sang thâm hụt. Viện trưởng nhìn nhận diễn biến này thế nào?
-Trong ngắn hạn, tôi chưa quá lo vì 94,1% giá trị nhập khẩu là tư liệu sản xuất phục vụ mở rộng sản xuất và thực hiện các đơn hàng xuất khẩu. Nhưng nhập siêu đang tạo áp lực trực tiếp lên tỷ giá và dự trữ ngoại hối. Dự trữ ngoại hối hiện chỉ tương đương 2 tháng nhập khẩu.
Xa hơn, nhập siêu là câu chuyện về chất lượng tăng trưởng thương mại. Khu vực FDI chiếm gần 80% kim ngạch xuất khẩu, trong khi giá trị gia tăng nội địa trong tổng xuất khẩu của Việt Nam suy giảm. Nếu doanh nghiệp trong nước không tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng thì quy mô xuất khẩu tăng nhưng giá trị giữ lại cho nền kinh tế sẽ không tương xứng.
Câu hỏi đặt ra là: chúng ta có đang đánh đổi quy mô thương mại lấy giá trị gia tăng thực sự cho nền kinh tế hay không, và làm thế nào để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị xuất khẩu?
Do đó, không chỉ là duy trì tăng trưởng xuất khẩu mà phải phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và thúc đẩy liên kết hiệu quả hơn giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước.
+ Ông đã nói vấn đề đặt ra là huy động vốn bằng kênh nào để không dồn toàn bộ rủi ro kỳ hạn và rủi ro hệ thống về phía các ngân hàng thương mại?
- Để phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số, hệ thống ngân hàng đang gánh vai trò cấp vốn chủ lực. Trong khi đó, tỷ lệ dư nợ tín dụng trên huy động đã ở mức cao (đã lên tới 115%_, vượt ngưỡng an toàn được khuyến nghị. Còn các kênh dẫn vốn trung, dài hạn phi ngân hàng – cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp – vẫn còn rất mỏng.
Một số giải pháp nới lỏng gần đây (miễn room tín dụng cho các dự án trọng điểm, nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% …) có thể giúp giảm áp lực thanh khoản trong ngắn hạn. Nhưng về dài hạn cần tiếp tục tái cơ cấu hệ thống tài chính theo hướng cân bằng hơn giữa tín dụng ngân hàng và các kênh huy động vốn trên thị trường.
Những phân tích trên cho thấy: Mục tiêu tăng trưởng hai con số cùng với giữ ổn định vĩ mô, đặt công tác điều hành trước những sự lựa chọn và đây đều là những vấn đề không có lời giải đơn giản.
+Viện trưởng gợi mở những khuyến nghị chính sách thiết thực cho 6 tháng cuối năm 2026 và xa hơn?
- Mục tiêu tăng trưởng hai con số thể hiện quyết tâm rất lớn đồng thời phản ánh khát vọng đưa Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới. Đây là mục tiêu đầy tham vọng nhưng hoàn toàn khả thi, nếu chúng ta đồng thời giải quyết tốt các nhóm vấn đề về cân đối vĩ mô và các vấn đề đang tích tụ. Năm nhóm vấn đề đang tích tụ (cân đối xuất nhập khẩu, tiền tệ - tín dụng, ngân sách, tiết kiệm - đầu tư và sức khỏe doanh nghiệp) thực chất là năm mặt của cùng một bài toán cân đối vĩ mô tổng thể.
Trước hết, cần giữ vững nguyên tắc không đánh đổi ổn định kinh tế vĩ mô lấy tăng trưởng ngắn hạn; Điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ gắn với chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát, tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính.
Cùng với đó là đẩy nhanh cải cách thể chế để phát triển thị trường vốn, nâng cao hiệu quả đầu tư công, mở rộng dư địa tài khóa cho các dự án hạ tầng chiến lược và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Một nhiệm vụ rất quan trọng khác là thực hiện các chính sách thiết thực để củng cố niềm tin và năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng cường liên kết với khu vực FDI. Nâng cao giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu, giảm phụ thuộc một chiều vào khu vực FDI.
Giải quyết đồng bộ những vấn đề này, tôi tin rằng mục tiêu tăng trưởng cao không chỉ khả thi trong năm 2026 mà còn có thể được duy trì bền vững trong cả giai đoạn 2026-2030, trên nền tảng một nền kinh tế có sức chống chịu và năng lực cạnh tranh cao hơn.
+ Xin cảm ơn Viện trưởng!