Mục tiêu đưa môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN
Trình bày Tờ trình, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, việc sửa đổi Luật nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương mới, tháo gỡ điểm nghẽn thực tiễn, nâng cao hiệu quả đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh.
Mục tiêu đặt ra là đưa môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028.
Một nội dung đáng chú ý của dự thảo là cho phép Chính phủ quy định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài trong các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường, căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước. Việc nới lỏng phải bảo đảm quốc phòng, an ninh, công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử và phù hợp với cam kết quốc tế.
Dự thảo cũng bổ sung các hình thức hỗ trợ đầu tư về phát triển chuỗi cung ứng, sản xuất sản phẩm công nghệ cao, đầu tư tài sản cố định, hợp tác đào tạo và nghiên cứu khoa học; đồng thời mở rộng ưu đãi, hỗ trợ đối với các dự án, lĩnh vực cần khuyến khích.
Đáng chú ý, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt sẽ gắn với cam kết của nhà đầu tư về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo lao động Việt Nam, phát triển nhà cung ứng trong nước và chuyển đổi xanh. Trường hợp không thực hiện đúng cam kết, nhà đầu tư có thể bị điều chỉnh hoặc thu hồi ưu đãi, hỗ trợ.
Dự thảo đề xuất thực hiện hỗ trợ thông qua Quỹ hỗ trợ đầu tư trên cơ sở chi phí hợp lệ thực tế phát sinh, trong phạm vi dự toán ngân sách nhà nước Trung ương được Quốc hội quyết định hằng năm. Đồng thời, cho phép khấu hao nhanh tài sản cố định tại khu công nghiệp sinh thái với mức tối đa bằng 2 lần mức khấu hao theo quy định và kéo dài thời gian hoạt động của dự án đầu tư hạ tầng lên tối đa 70 năm.
Về thủ tục, dự thảo mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt đối với một số dự án thuộc ngành, lĩnh vực ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt thực hiện ngoài các khu chức năng tập trung khi đáp ứng điều kiện về đất đai. Cổng một cửa đầu tư quốc gia được định hướng trở thành nền tảng số thống nhất, kết nối dữ liệu, từng bước thực hiện thủ tục đầu tư trực tuyến toàn trình, giảm thời gian và chi phí tuân thủ.
Cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ điều kiện, nguyên tắc áp dụng
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết, đa số ý kiến trong Ủy ban cơ bản nhất trí với sự cần thiết sửa đổi Luật Đầu tư nhằm thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng, tháo gỡ rào cản về thể chế, cơ chế, chính sách. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật liên quan.
Đối với đề xuất nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài, đa số ý kiến cơ bản thống nhất về định hướng, nhưng đề nghị cân nhắc kỹ thẩm quyền của Chính phủ, bảo đảm tính hợp pháp, thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với các điều ước quốc tế. Việc nới lỏng cần có lộ trình phù hợp, đánh giá đầy đủ tác động, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực nhạy cảm và yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Về Quỹ hỗ trợ đầu tư, đa số ý kiến đề nghị giữ quy định hiện hành, theo đó Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ban hành quy định chi tiết về Quỹ, nhằm bảo đảm giám sát việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính quốc gia.
Đối với ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, cơ quan thẩm tra đề nghị quy định rõ ngay trong Luật các nguyên tắc, tiêu chí xác định dự án được hưởng ưu đãi, nhất là về tác động lan tỏa, tạo động lực phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; đồng thời làm rõ cơ chế gắn ưu đãi với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư.
Ủy ban cũng đề nghị làm rõ mối quan hệ giữa thủ tục đăng ký đầu tư với thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, nhất là trường hợp đất chưa được thu hồi; quy định rõ phạm vi, tiêu chí các trường hợp không phải đấu giá, đấu thầu đối với dự án sử dụng khu vực biển.
Đối với Cổng một cửa đầu tư quốc gia, cần làm rõ mối quan hệ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư và Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư, xác định trách nhiệm quản lý, cập nhật, kết nối và chia sẻ dữ liệu, bảo đảm nhà đầu tư không phải cung cấp lại thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước. Đồng thời, tiếp tục rà soát các điều khoản chuyển tiếp để tránh khoảng trống pháp lý, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.