Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 về thu hút và trọng dụng nhân tài:

Trọng dụng hiệu quả để chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển

(NB&CL) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh, nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia. Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược làm định hướng cao nhất. Từ tinh thần ấy, Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững được ban hành, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về nguồn lực con người.

Thu hút nhân tài, nhân lên nguồn lực phát triển

Hơn 5 thế kỷ trước, Thân Nhân Trung (1419 - 1499; là danh sĩ, nhà chính trị và nhà văn hóa tiêu biểu dưới triều Hậu Lê, nổi tiếng với tư tưởng đề cao giáo dục và trọng dụng nhân tài) đã khẳng định “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”.

Ngày 20/11/1946, trên Báo Cứu quốc số 411, giữa lúc chính quyền cách mạng còn rất non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố bài viết “Tìm người tài đức” trong đó nhấn mạnh: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài”.

Dù ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, các tư tưởng ấy đều gặp nhau ở nhận thức sâu sắc về vai trò của nhân tài đối với vận mệnh đất nước.

Kế thừa tinh thần ấy, sự ra đời của Kết luận số 105-KL/TW đánh dấu một bước ngoặt chiến lược quan trọng trong tư duy phát triển của Đảng, xác lập góc nhìn hoàn toàn mới về vị thế của nhân tài trong cấu trúc năng lực tự chủ quốc gia. Theo đó, nhân tài không còn được nhìn nhận đơn thuần là nguồn lực phát triển chung mà được nâng tầm thành “nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia, giữ vai trò quan trọng dẫn dắt phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và tự chủ chiến lược của đất nước”. Thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm định hướng cao nhất. Xác định đầu tư cho nhân tài là đầu tư dài hạn, chiến lược; thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên nhân tài thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia.

anhminhhoa1.jpg
Khi nhân tài được đặt vào đúng vị thế dẫn dắt, được tin tưởng, trao quyền và bảo vệ trong một môi trường sáng tạo đích thực, tiềm lực quốc gia sẽ được nhân lên gấp bội Ảnh: Sinh viên Đại học Phenikaa

Một đất nước có thể tiến nhanh, tiến mạnh hơn khi biết biến tri thức thành công nghệ, biến sáng kiến thành sản phẩm và biến năng lực của những con người xuất sắc thành sức mạnh phát triển quốc gia. Bởi vậy, câu chuyện nhân tài không đơn thuần là chính sách nhân sự, mà là vấn đề chiến lược đối với tương lai đất nước, có vai trò thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, quốc gia nào tạo được môi trường hấp dẫn để phát hiện, nuôi dưỡng và phát huy trí tuệ con người sẽ có lợi thế phát triển lâu dài.

Kiến tạo môi trường để nhân tài tạo ra giá trị

Trong thời đại khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng, bài toán nhân tài không còn dừng ở việc tìm kiếm những cá nhân xuất sắc, mà đòi hỏi phải xây dựng môi trường, thể chế và cơ chế sử dụng phù hợp để tài năng được phát huy tối đa. Kết luận số 105-KL/TW thể hiện bước tiến quan trọng trong tư duy về vấn đề có ý nghĩa sống còn ấy. Không chỉ xác định nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia, Trung ương còn đặt ra yêu cầu tạo chuyển biến căn bản về nhận thức, thể chế và phương thức quản trị nhân tài.

Theo đó, Kết luận số 105 nhấn mạnh quan điểm: Đổi mới căn bản tư duy và phương thức quản trị nhân tài; chuyển từ quản lý con người theo tổ chức, biên chế sang quản trị và phát triển nhân tài, lấy sản phẩm, kết quả và giá trị cống hiến làm thước đo, trong đó trọng dụng là khâu then chốt, tạo nguồn nhân tài là căn bản, lâu dài. Trọng dụng nhân tài phải gắn với bố trí đúng sở trường, giao nhiệm vụ lớn, trao quyền tự chủ thực chất, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, bảo đảm nguồn lực và điều kiện làm việc.

Theo đánh giá của PGS.TS Hoàng Văn Nghĩa, Ủy viên đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội khóa XVI, cần phải nhìn nhận rõ ràng rằng, có điểm khác biệt bản chất giữa “thu hút nhân tài” và “trọng dụng nhân tài”, xuất phát từ tư duy “dùng người” và “dụng người” có năng lực, trình độ. Nếu như “thu hút nhân tài” mới chỉ dừng lại ở khâu tuyển chọn, đãi ngộ ban đầu hay các chính sách “rước” người tài về, thì “trọng dụng” lại đòi hỏi phải tạo ra một hệ sinh thái và môi trường dung dưỡng phù hợp. Môi trường đó phải giúp người tài phát huy tối đa năng lực, phẩm chất của mình vào quá trình đổi mới, sáng tạo, làm chủ công nghệ, dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách đòi hỏi cao của thực tiễn, dám giải quyết những bài toán lớn và sẵn sàng cống hiến lâu dài cho cơ quan, tổ chức.

Nếu chỉ dừng lại ở khâu “thu hút” mà không “trọng dụng” - tức là chỉ tuyển mộ, sử dụng, khai thác mà thiếu đi môi trường dung dưỡng và hệ sinh thái hỗ trợ - thì người tài sẽ rất khó phát huy năng lực. Việc thiếu môi trường kiến tạo - phát triển với các điều kiện hỗ trợ như một hệ sinh thái đổi mới - sáng tạo, thì người tài khó có cơ hội được “phô diễn”, “bộc lộ”, “phát huy”, đồng thời vướng phải rào cản thể chế hay cách đánh giá cào bằng sẽ khiến người tài rơi vào tình trạng “vào rồi lại ra”, hoặc nguy hiểm hơn là bị vô hiệu hóa năng lực ngay trong hệ thống. Hệ quả của hiện tượng “lãng phí chất xám” (hay “chảy máu chất xám”) này là làm triệt tiêu động lực đổi mới sáng tạo, đồng thời làm suy giảm niềm tin và năng lực tự chủ nhân lực chiến lược của quốc gia.

Một môi trường, không gian nơi người tài có thể thoả sức cống hiến, tạo giá trị, như gợi mở của Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà là sự cần thiết xây dựng văn hóa trọng dụng nhân tài, tạo lập môi trường và điều kiện để nhân tài phát huy năng lực, cống hiến và tạo giá trị. Khắc phục tình trạng đố kỵ, cô lập, sợ người giỏi... Như nhìn nhận của TS Phạm Ngọc Hùng, văn hóa trọng dụng nhân tài trước hết là văn hóa tôn trọng năng lực thực chất và giá trị cống hiến. Bằng cấp, học hàm, học vị, chức vụ hay thâm niên có thể là những căn cứ tham khảo, nhưng không thể thay thế việc đánh giá năng lực và kết quả thực tế. Đó còn là văn hóa dám phát hiện, dám tiến cử và dám sử dụng người giỏi.

Nhìn nhận về môi trường, không gian để người tài phát huy hết giá trị, TS Hoàng Ngọc Vinh cho rằng, người tài cần quyền được làm nghề một cách chuyên nghiệp: được chọn cộng sự, tiếp cận thiết bị, dữ liệu và kinh phí đúng lúc, được quyết định những vấn đề chuyên môn thuộc trách nhiệm của mình. Môi trường tốt còn cần khung pháp lý minh bạch, ổn định và có khả năng bảo vệ người sáng tạo. Quyền sở hữu trí tuệ phải rõ ràng, kết quả nghiên cứu và bí quyết công nghệ phải được bảo vệ, quyền lợi giữa nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp phải được xác định từ đầu. Họ cũng cần được làm việc cùng những người đủ giỏi. Chính sách nhân tài vì thế nhiều khi phải tạo điều kiện để một người giỏi xây dựng được cả nhóm, chứ không chỉ ưu đãi riêng cá nhân đó. Môi trường ấy cũng phải chấp nhận rủi ro của sáng tạo. Nếu mọi thất bại đều dễ bị quy thành trách nhiệm thì lựa chọn an toàn nhất sẽ là không thử điều mới.

Cùng chung góc nhìn, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cũng nhận định, với nhân tài, đãi ngộ vật chất là cần nhưng chưa đủ. “Một môi trường tốt cho nhân tài phải trả lời rõ 5 câu hỏi: Anh được giao việc gì? Anh có quyền gì? Anh có nguồn lực gì? Anh được đánh giá bằng tiêu chí nào? Nếu anh làm đúng thẩm quyền, đúng mục tiêu, có trách nhiệm nhưng kết quả thử nghiệm chưa thành công thì hệ thống bảo vệ anh ra sao. Khi 5 câu hỏi ấy có câu trả lời minh bạch, người tài mới có thể yên tâm dốc sức”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Người tài có thể đến vì chính sách hấp dẫn, nhưng họ chỉ ở lại khi thấy mình được tin tưởng, được bảo vệ và có thể làm được việc. Điều đáng mừng là tại Chương trình hành động số 48-CTr/TW ngày 15/10/2026 của Bộ Chính trị về thu hút, trọng dụng nhân tài đã cho thấy, một không gian mới nơi người tài thoả sức cống hiến, chứng minh khả năng giá trị của mình đã được khai mở. Theo đó: Xây dựng văn hoá trọng người thực tài, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch, bảo vệ người dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; Rà soát, hoàn thiện chính sách khen thưởng, tôn vinh nhân tài, bảo đảm công khai, minh bạch, thực chất, gắn với hiệu quả cống hiến; Tổ chức các chương trình trao đổi, đối thoại giữa lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cấp với đội ngũ nhân tài.

Trao quyền thực chất, đánh giá bằng kết quả

Một điểm mới mang tính đột phá trong Kết luận số 105-KL/TW cũng như Chương trình hành động số 48-CTr/TW là quan điểm đổi mới phương thức phát hiện, lựa chọn, trọng dụng và đánh giá nhân tài theo nhiệm vụ và kết quả. Theo đó, Đảng nhấn mạnh yêu cầu: Rà soát, hoàn thiện cơ chế phát hiện, giới thiệu, tiến cử nhân tài; khuyến khích thu hút nhà khoa học trẻ, sinh viên xuất sắc; Lựa chọn và trọng dụng nhân tài theo yêu cầu nhiệm vụ chiến lược, bài toán lớn gắn với sản phẩm, kết quả cụ thể; kịp thời điều chỉnh hoặc chấm dứt giao nhiệm vụ khi không đáp ứng yêu cầu. Đặc biệt, Đảng ta chỉ rõ: Đánh giá nhân tài trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ, chất lượng sản phẩm, giá trị tạo ra và hiệu quả cống hiến; bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.

Nhìn nhận về câu chuyện đánh giá nhân tài, PGS.TS Bùi Hoài Sơn lưu ý cần tránh hai cực đoan: một là tiếp tục đánh giá chung chung, cảm tính; hai là máy móc biến mọi giá trị thành con số. Nhân tài trong nghiên cứu khoa học khác nhân tài trong quản trị, văn hóa, công nghệ hay hoạch định chính sách. Vì thế, KPI phải được thiết kế theo vị trí việc làm và nhiệm vụ cụ thể, có trọng số khác nhau, nhưng cùng dựa trên một số nguyên tắc chung.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, hệ thống đánh giá nhân tài có thể cấu trúc thành 4 lớp chặt chẽ. Lớp thứ nhất là phẩm chất và kỷ luật. Đây là điều kiện nền tảng, không phải chỉ tiêu có thể lấy thành tích để bù trừ. Liêm chính, trách nhiệm, tuân thủ pháp luật, kỷ luật của Đảng và chuẩn mực công vụ phải được bảo đảm. Lớp thứ hai là sản phẩm đầu ra: đã tạo ra cái gì, chất lượng ra sao, có đúng thời hạn hay không. Lớp thứ ba là hiệu quả và tác động: sản phẩm đó giải quyết được vấn đề gì, tiết kiệm nguồn lực bao nhiêu, tạo giá trị mới gì cho người dân, doanh nghiệp, tổ chức hoặc ngành, lĩnh vực. Lớp thứ tư là đóng góp cho năng lực dài hạn: sáng tạo phương pháp mới, đào tạo đội ngũ kế cận, chuyển giao tri thức, xây dựng mạng lưới, nâng năng lực tổ chức.

Tinh thần xuyên suốt của Kết luận 105 là chuyển từ thu hút người tài bằng chính sách ưu đãi đơn thuần sang kiến tạo môi trường để tài năng phát triển, được giao trọng trách và tạo ra giá trị. Thu hút là điều kiện cần, nhưng trọng dụng hiệu quả mới quyết định khả năng chuyển hóa nhân tài thành nguồn lực phát triển. Khi nhân tài được đặt vào đúng vị thế dẫn dắt, được tin tưởng, trao quyền và bảo vệ trong một môi trường sáng tạo đích thực, tiềm lực quốc gia sẽ được nhân lên gấp bội, tạo đà cho Việt Nam bứt phá phát triển nhanh, bền vững và tự tin bước vào kỷ nguyên mới.

Xem thêm

Việc đã rõ phải làm ngay

Việc đã rõ phải làm ngay

(NB&CL) Việc đã xác định rõ thì phải bắt tay thực hiện, vướng mắc phải được tháo gỡ, trách nhiệm phải được xác định đến cùng. Từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, 3 chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với quá trình tổ chức thực hiện các quyết sách: không để công việc chậm trễ vì né tránh, đùn đẩy, không để những vấn đề đã có hướng giải quyết tiếp tục ách tắc, mà phải tạo chuyển biến thực chất trong từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực, để người dân và doanh nghiệp sớm nhận thấy kết quả.

Sau cuộc trở về là một lời hứa

Sau cuộc trở về là một lời hứa

(CLO) 731 liệt sĩ được đưa về nơi an nghỉ sau gần 60 năm. Nhưng sự tri ân không thể khép lại cùng một lễ truy điệu. Điều phải ở lại là lời hứa của những người đang sống: không quên quá khứ và xây dựng một đất nước xứng đáng với sự hy sinh ấy.

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

Hà Nội đang học cách đi nhanh bằng một cách nghĩ khác

(NB&CL) Có một Hà Nội rất dễ nhận ra qua những câu chuyện hàng ngày, như tắc đường, mưa xuống là lo ngập, những dự án kéo dài, trường học quá tải... Nhưng nếu chỉ nhìn Thủ đô từ những điều ấy, sẽ khó thấy một chuyển động đang diễn ra khá rõ trong thời gian gần đây: Hà Nội đang thay đổi cách nghĩ về con đường phát triển của chính mình.

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

Đằng sau sự bùng nổ của các hội nhóm trên mạng xã hội: Ranh giới pháp lý cần được phân định!

(NB&CL) Sự xuất hiện của những hội nhóm mang tên như “Hội những người từng đi tù”, “Hội những người vỡ nợ muốn làm liều” hay gần đây là “Con ghét bố mẹ” đang thu hút sự quan tâm lớn trên mạng xã hội. Đặc biệt, hội nhóm “Con ghét bố mẹ” đã thu hút sự quan tâm khi có hàng trăm nghìn thành viên. Nhiều bài viết chia sẻ những mâu thuẫn, tổn thương trong quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Cỡ chữ bài viết: