Tăng lương tối thiểu vùng: Điều chỉnh để bảo vệ nhóm lao động yếu thế

Chiều 28/3, kết thúc phiên họp về lương tối thiểu vùng của Hội đồng Tiền lương Quốc gia, đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết phiên họp mang tính chất thăm dò, các bên chưa chốt phương án cụ thể, song cơ quan này tiếp tục đề xuất tăng từ ngày 1/7. Các chuyên gia cũng cho rằng việc xem xét tăng lương tối thiểu vùng là cần thiết.

Lương “chạy” không kịp mức chi phí cuộc sống của người lao động

Đánh giá chung để chuẩn bị cho việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2021-2026, các cơ quan Trung ương thống nhất nhận định, sau hơn 20 năm, tính từ 1993, qua 2 lần cải cách tiền lương (năm 1993 và năm 2004), dù tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh song đời sống người hưởng lương ít được cải thiện.

Theo Bộ LĐ-TB&XH với mức lương hiện nay, người lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp chỉ chi trả được 50% mức sống tối thiểu, trong khi giá cả sinh hoạt ngày càng leo thang. Con số này ở khu vực sản xuất dù có cao hơn nhưng cũng mới chỉ đạt 80% (tính đến 2020).

tang luong toi thieu vung dieu chinh de bao ve nhom lao dong yeu the hinh 1

Thực tế, từ 2008, khi bắt đầu tách riêng lương khu vực công và khu vực doanh nghiệp (lương cán bộ công chức căn cứ trên lương cơ sở với hệ thống thang, bảng lương rất phức tạp và lương công nhân, người lao động tại doanh nghiệp căn cứ trên lương tối thiểu vùng) tới nay, lương khu vực doanh nghiệp được đánh giá là được cải cách, điều chỉnh tăng nhanh hơn lương khu vực công.Cụ thể, lương tối thiểu vùng có mức tăng trung bình 8%/năm, nhanh hơn tốc độ tăng năng suất lao động (xấp xỉ 4%/năm).

Liên tục hơn 10 năm, Chính phủ không ngừng quan tâm cải cách, điều chỉnh mức lương tối thiểu qua từng năm, góp phần cải thiện đời sống người lao động. Đơn cử, Chính phủ đã quyết định điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng từ ngày 1/1/2013 với mức tăng 16-18% (thấp hơn so với mức tăng 35 -37% đã trình trong Đề án được Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI phê duyệt). Từ ngày 1/1/2015, Chính phủ đã quyết định điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng tăng 14,2%. Năm 2016, lương tối thiểu vùng tiếp tục tăng 12,4%, năm 2017 tăng 7,3%.

Ông Lê Đình Quảng - Phó Trưởng Ban Chính sách pháp luật, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cho rằng: “Tiền lương tối thiểu vùng hiện không còn bảo vệ được người lao động yếu thế và có nguy cơ trở thành kẽ hở để doanh nghiệp lợi dụng, trả lương lao động thấp hơn”.

Tuy nhiên, do nhiều khó khăn, 2 năm qua, từ 2020, lương tối thiểu vùng vẫn được giữ nguyên, lùi lộ trình tăng như kế hoạch. Trao đổi với PV Dân trí về việc này, Phó Trưởng ban Chính sách pháp luật Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Lê Đình Quảng - thành viên Hội đồng Tiền lương Quốc gia nhấn mạnh lương tối thiểu không được điều chỉnh tương ứng, hiện không đảm bảo được ý nghĩa là để đáp ứng mức sống của người lao động và gia đình.

Theo khảo sát của Trung tâm nghiên cứu quan hệ lao động, mức lương tối thiểu vùng I (cao nhất trong 4 vùng) hiện nay được duy trì từ năm 2020 là mức 4,42 triệu đồng/tháng mới đáp ứng được  hơn 90% mức sống tối thiểu. Khoảng cách giữa lương tối thiểu và mức sống tối thiểu đã tăng quá mốc 10% trong năm 2021, do những khó khăn dịch bệnh khiến những chi phí cho y tế, giá cả thực phẩm, hàng hóa thiết yếu tăng cao trong khi lương vẫn bị “neo” ở mức cũ.

Tăng lương tối thiểu vùng là cần thiết

Trong cuộc họp của Hội đồng Tiền lương Quốc gia về lương tối thiểu vùng, các chuyên gia cho rằng việc xem xét tăng lương tối thiểu vùng là cần thiết. Trong phiên họp này, đại diện người lao động là Tổng Liên đoàn Việt Nam và đại diện của chủ sử dụng lao động là Liên đoàn Thương mại - Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thảo luận, đưa ra các luận điểm để làm căn cứ cho các phương án tăng lương tối thiểu.

tang luong toi thieu vung dieu chinh de bao ve nhom lao dong yeu the hinh 2

Do ảnh hưởng của dịch COVID-19, hai năm qua, lương tối thiểu vùng chưa được điều chỉnh, hiện vẫn áp dụng theo mức tiền lương tối thiểu được quy định tại Nghị định 90/2019/NĐ-CP của Chính phủ, áp dụng bắt đầu từ 1/1/2020.

Theo TS. Nguyễn Việt Cường - Giảng viên Khoa Kinh tế và Quản lý (Trường Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội), trong nghiên cứu gần đây về đánh giá tác động của việc tăng lương tối thiểu lên việc làm và năng suất lao động ở Việt Nam (số liệu từ điều tra lao động việc làm 2012-2020) cho thấy, tác động tích cực của việc tăng lương tối thiểu đối với tiền lương tháng của người lao động có tiền lương dưới mức tối thiểu.

Theo đó, mức lương tối thiểu tăng 1% sẽ làm tăng 0,83% tiền lương hằng tháng. Tuy nhiên, tác động của tăng lương tối thiểu đối với tiền lương của lao động nói chung là không đáng kể. Mức lương tối thiểu tăng 1% dẫn đến tiền lương theo giờ tăng 0,32%, điều này hàm ý rằng năng suất lao động tăng lên do tăng lương tối thiểu.

Ông Cường cho biết, trong giai đoạn 2012 – 2017, lương tối thiểu tăng rất nhanh. Tuy nhiên, những năm gần đây nếu so với mức lương trung bình, tốc độ tăng lương tối thiểu bắt đầu giảm, thậm chí không còn theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế xã hội nói chung, do chưa được điều chỉnh, mức lương tối thiểu hiện nay không còn đáp ứng được nhu cầu thực tế của người lao động. Vì vậy, chuyên gia này cho rằng nên xem xét để tăng lương.

Theo ông Cường, để hỗ trợ doanh nghiệp, thời gian qua Chính phủ đã không điều chỉnh lương tối thiểu vùng, nhưng hiện nay việc tăng này là cần thiết, song sẽ cần thêm các chính sách hỗ trợ hài hòa hơn.

Trao đổi về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Lan Hương - Nguyên Viện trưởng Viện Khoa học xã hội - Bộ LĐ-TB&XH cho hay, xét về lý thuyết, mức lương tối thiểu được điều chỉnh dựa trên mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế, khả năng chi trả của doanh nghiệp.

Năm nay, nước ta ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi, tạo việc làm bền vững cho người lao động. Sau khi kinh tế phục hồi, người lao động có công ăn việc làm thì sẽ tính toán việc tăng lương tối thiểu vùng. Vì vậy, năm nay Hội đồng Tiền lương Quốc gia cũng có thể bàn bạc để điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng cho năm 2023.

Lương tối thiểu để bảo vệ nhóm lao động yếu thế

Thống kê năm 2021 của Viện Công nhân, công đoàn: 21% người lao động phải ăn nhiều mì tôm hơn, 48% người lao động phải giảm lượng thịt hằng ngày, 22% người lao động phải chuyển từ việc mua sắm hằng ngày sang sử dụng thực phẩm do người thân cung cấp; 15% người lao động lựa chọn việc ăn gộp bữa, giảm bữa.

Trong một tương quan khác, 60% người lao động phải tiết kiệm triệt để các khoản chi; 11% phải vay mượn tiền của người thân: 0,3% phải vay lãi suất cao, tín dụng đen hoặc bán sổ bảo hiểm xã hội.

“Lương tối thiểu hiện quá thấp và còn nợ mức sống tối thiểu 11% nên dù có tăng qua các năm cũng không đủ để chạy theo chi phí đời sống”, ông Mai Đức Chính - nguyên Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng tiền lương quốc gia nhận xét.

Vấn đề khác, như ông Lê Đình Quảng đề cập, ông Chính chỉ rõ, lương tối thiểu hiện mất đi ý nghĩa để đảm bảo mức sống của người lao động vì thực tế, hằng tháng người lao động hầu hết đã nhận một khoản thu nhập cao hơn nhiều so với lương tối thiểu. “Neo” giữ mức lương này, theo đó, chỉ có ý nghĩa giúp doanh nghiệp kìm chi phí đóng bảo hiểm cho người lao động.

Mổ xẻ vấn đề đặt ra, TS. Bùi Sỹ Lợi - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội của Quốc hội cho rằng, tiền lương tối thiểu phải hướng đến mục tiêu bảo vệ nhóm lao động yếu thế, về bản chất là mức sống tối thiểu và là căn cứ giới hạn tối thiểu cho người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về tiền lương, đặc biệt đối với một số ngành, nghề lao động giản đơn.

Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, việc công bố mức lương tối thiểu chỉ ảnh hưởng khoảng từ 10% đến 20% người lao động thuộc nhóm có mức lương thấp nhất, làm việc trong những ngành, nghề yếu thế.

Trong điều kiện hiện tại của Việt Nam, với tỷ lệ lao động phổ thông còn khá lớn, cần thiết phải quy định mức lương tối thiểu vùng, nhưng trong tương lai, khi nhóm lao động có tay nghề tăng lên nên hướng đến việc chỉ công bố mức lương tối thiểu đối với nhóm ngành, nghề mà người lao động có khả năng rơi vào tình trạng yếu thế, hạn chế tối đa việc người sử dụng lao động lợi dụng lương tối thiểu như là lương tham chiếu để chi trả tiền lương không hợp lý.

“Với nguyên tắc tiền lương là giá cả của sức lao động, được hình thành theo cơ chế thị trường với sự thỏa thuận của các bên. Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào mức tiền lương của người lao động, chỉ quy định mức tiền lương thấp nhất mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động” - TS. Bùi Sỹ Lợi nhắc lại, Nhà nước xác định lương tối thiểu chính là mức sàn thấp nhất để các bên thương lượng về tiền lương.

Khánh An

Xem thêm

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Cỡ chữ bài viết: