Bài học từ những cuộc ra đi và bản chất của hệ sinh thái dùng người
Con số 39.552 cán bộ, công chức, viên chức xin nghỉ việc trong giai đoạn từ đầu năm 2020 đến giữa năm 2022 được Bộ Nội vụ công bố – trong đó có tới 653 tiến sĩ, 4.018 thạc sĩ và 19.637 người có trình độ đại học dù là thống kê chung trên diện rộng của khu vực công vẫn là một vết cắt nhức nhối vào niềm tin chính sách. Nó phơi bày một sự thật trần trụi: Đãi ngộ tài chính ban đầu chỉ là chiếc vé thông hành; môi trường học thuật, sự công bằng tổ chức và dũng khí bảo vệ rủi ro mới là neo chốt giữ chân người tài.
Triết học Mác - Lênin khẳng định bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội. Tài năng không phải là đóa hoa trồng trong chậu cảnh phòng lạnh; nó sinh sôi và phát tiết trong một hệ sinh thái tương tác phức hợp giữa đồng nghiệp, lãnh đạo, hạ tầng kỹ thuật và văn hóa cơ quan. Trong “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ từng căn dặn người lãnh đạo phải biết tin cậy, có gan giao việc cho cấp dưới tự phụ trách, không vì thấy một vài sai sót cục bộ mà co cụm, không dám dùng người. Trọng dụng nhân tài, theo tấm gương của Bác, là sự độ lượng, sẻ chia và dám chịu rủi ro cùng họ, chứ tuyệt đối không phải thái độ cầu toàn, đòi hỏi một sự hoàn hảo không tì vết. Thấu suốt nguyên lý ấy, Kết luận số 105-KL/TW đã tách nhiệm vụ “xây dựng văn hoá trọng dụng nhân tài, tạo lập môi trường và điều kiện để nhân tài phát huy năng lực, cống hiến và tạo giá trị” thành một nhóm giải pháp chiến lược độc lập. Môi trường làm việc chính thức được đặt ngang hàng với tiền lương như một trụ cột sống còn của chính sách.
Bài học thất bại của Đề án 911 về đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ là một vết xe đổ đắt giá: Với tổng kinh phí dự kiến 14.000 tỷ đồng, kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước công bố năm 2018 cho thấy đến hết năm 2016, toàn đề án mới tuyển được 4.024 nghiên cứu sinh (đạt 17,5% chỉ tiêu) và chỉ có vỏn vẹn 787 người tốt nghiệp (đạt 3,4%), khiến cơ quan kiểm toán phải kiến nghị thu hồi nộp ngân sách trên 50 tỷ đồng. Căn nguyên không chỉ ở việc tuyển chọn mà ở sự bỏ trống khâu sử dụng sau đào tạo. Hàng ngàn tiến sĩ trở về đối mặt với những phòng thí nghiệm rỗng tuếch, đề tài nghiên cứu bị cắt vụn và tư duy quản lý hành chính bao cấp. Không có đất dụng võ, sự ra đi hay mai một chuyên môn là một kết cục đã được báo trước.
“Vách đứng” đãi ngộ và rào cản từ sự đố kỵ, sợ sai
Song song với hạ tầng nghiên cứu thiếu thốn là nghịch lý “vách đứng đãi ngộ” đang làm xói mòn tính bền vững của các chính sách thu hút nhân tài khu vực công. Nhiều đề án chỉ thiết kế gói hỗ trợ tài chính đột biến trong 3 đến 5 năm đầu nhưng sau giai đoạn “trăng mật”, các khoản phụ cấp đặc thù bị cắt đứt đột ngột, đưa chuyên gia trở về đúng mặt bằng ngạch bậc lương hành chính thông thường vốn còn nhiều bất cập.
Bài học từ TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết số 54/2017/QH14 của Quốc hội là một minh chứng đắt giá: Dù thành phố đưa ra gói hỗ trợ ban đầu lên tới 100 triệu đồng cùng mức lương từ 30 đến 50 triệu đồng/tháng song sau 5 năm triển khai, số lượng chuyên gia thu hút được chỉ đếm trên đầu ngón tay và không ít người sau đó đã xin rút lui vì cơ chế tài chính hụt hơi và thủ tục thanh quyết toán quá nặng nề.
Ngay cả gói đãi ngộ vượt trội tại Nghị định số 179/2024/NĐ-CP của Chính phủ – cho phép phụ cấp tối thiểu 300% mức lương vị trí việc làm cho chuyên gia trong 5 năm – nếu không được tiếp nối bằng cơ chế đãi ngộ theo sản phẩm và lộ trình phát triển nghề nghiệp dài hạn, cũng sẽ vô tình tạo ra một “vách đứng” thu nhập. Cơ quan nhà nước khi đó chỉ đóng vai trò một trạm trung chuyển tạm bợ trước khi nhân tài dứt áo chuyển sang khối doanh nghiệp tư nhân hoặc các tập đoàn nước ngoài.
Nhưng hiểm họa lớn hơn cả sự thua thiệt về vật chất chính là thứ lực cản vô hình từ môi trường tâm lý - văn hóa công sở được Kết luận số 105-KL/TW điểm mặt chỉ tên: “tình trạng cào bằng, cục bộ, khép kín, đố kỵ, cô lập, sợ người giỏi”. Đi cùng với nó là căn bệnh nguy hiểm được Nghị quyết số 30-NQ/TW cảnh báo: “cán bộ né tránh, đùn đẩy, sợ sai, sợ trách nhiệm”.
Trong một tổ chức bị chi phối bởi tư duy bình quân chủ nghĩa, nơi thâm niên công tác được tôn sùng hơn năng lực sáng tạo thực tế, người có thực tài với tư duy đột phá đương nhiên trở thành đối tượng dị biệt. Làn sóng hơn 39.500 cán bộ, công chức, viên chức rời khu vực công giai đoạn 2020 – 2022, nhất là việc hàng loạt bác sĩ phẫu thuật tay nghề cao rời các bệnh viện công lập đầu ngành, đã phơi bày áp lực ngột ngạt này: Chuyên gia trẻ muốn triển khai kỹ thuật mới hay đề xuất mua sắm thiết bị hiện đại thường bị đình trệ bởi tâm lý sợ sai của cấp trên hoặc bị e dè trước định kiến “sống lâu lên lão làng”. Thậm chí, không ít thủ khoa xuất sắc được tuyển dụng theo Kết luận số 86-KL/TW và Nghị định số 140/2017/NĐ-CP khi về cơ quan lại bị giao làm công việc sự vụ sự việc, photo giấy tờ; mọi sáng kiến đổi mới quy trình đều bị dội gáo nước lạnh bởi sự nghi ngại của những người quen làm việc theo lối mòn.
Hệ lụy đau xót là trong môi trường nặng tính sợ sai, người dám dấn thân tìm cái mới luôn là người chịu đòn đau nhất trước các phán xét hành chính trong khi những kẻ an phận thủ thường, không làm gì lại đạt điểm an toàn tuyệt đối. Bị bủa vây giữa sự nghi kỵ của đồng nghiệp và sự dè chừng của thủ trưởng mang nặng tâm lý sợ cấp dưới vượt tầm, ngọn lửa nhiệt huyết phụng sự của người tài tất yếu sẽ dần nguội lạnh. Họ buộc phải đứng trước hai lựa chọn nghiệt ngã: hoặc thỏa hiệp, tự đồng hóa bản thân để hòa tan vào sự trung bình chủ nghĩa, hoặc lặng lẽ nộp đơn xin thôi việc. Đúng như nguyên lý của chủ nghĩa Mác, con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của các quan hệ xã hội; nếu không dũng cảm phẫu thuật căn bệnh bằng phẳng, cục bộ và xác lập một môi trường làm việc công tâm, minh bạch thì mọi nỗ lực “trải thảm đỏ” chỉ là việc gieo những hạt giống ưu tú lên một mảnh đất đang bị nhiễm độc bởi văn hóa hành chính bảo thủ.
“Làm đất trước khi gieo hạt” – Thể chế bảo vệ rủi ro và bệ phóng hạ tầng
Để đập tan tảng băng sợ hãi ấy, Kết luận số 105-KL/TW đã xác lập tấm lá chắn thể chế: “mở rộng quyền tự chủ chuyên môn; có cơ chế miễn trừ trách nhiệm hợp lý đối với nhân tài khi gặp rủi ro, thất bại khách quan trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo”, phân định rạch ròi giữa rủi ro học thuật với hành vi vụ lợi, gian lận. Nghị quyết số 30-NQ/TW yêu cầu đánh giá cán bộ phải đặt trong bối cảnh thực tế tại thời điểm ra quyết định. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh nguyên tắc: “Mở rộng quyền tự chủ chuyên môn; có cơ chế miễn trừ trách nhiệm hợp lý đối với nhân tài khi gặp rủi ro, thất bại khách quan trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; phân định rõ giữa rủi ro trong nghiên cứu khoa học với các hành vi cố ý vi phạm, tham nhũng, lãng phí”.
Tư duy này đã bước đầu được pháp điển hóa tại Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội khóa XV về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: miễn trách nhiệm dân sự khi gây thiệt hại cho Nhà nước nếu đã tuân thủ đúng quy trình, cho phép khoán chi đến sản phẩm cuối cùng và không bắt hoàn trả kinh phí khi nghiên cứu không đạt do yếu tố khách quan. Đồng thời, Trung ương quyết nghị dành ngân sách cho nhân tài đạt khoảng 0,1% GDP hằng năm trong tổng nguồn lực khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Chính sách chỉ thực sự có sức sống khi được cắm rễ vào mảnh đất thực tiễn của các địa phương. Bài học từ Đà Nẵng tháng 5/2026 là một dẫn chứng điển hình: Hội đồng nhân dân thành phố đã ban hành đồng bộ Nghị quyết số 21/2026/NQ-HĐND ngày 29/5/2026 quy định chính sách phát triển nguồn nhân lực vi mạch bán dẫn và trí tuệ nhân tạo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và Nghị quyết số 22/2026/NQ-HĐND ngày 29/5/2026 về chính sách ưu đãi hạ tầng, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ thông tin, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo tiếp cận tài sản kết cấu hạ tầng công nghệ cao. Hai nghị quyết bổ khuyết cho nhau, tạo nên một hệ sinh thái khép kín: Muốn thu hút chuyên gia vi mạch theo Nghị quyết 21 thì bắt buộc phải có cơ chế mở cửa phòng sạch, máy chủ tính toán, phòng kiểm thử chuẩn quốc tế theo Nghị quyết 22. Đãi ngộ chỉ là lời chào; hạ tầng công nghệ hiện đại và đầu bài thực tế mới là mảnh đất màu mỡ giữ chân người tài.
Từ mảnh đất được cải tạo ấy, những hạt mầm trí tuệ Việt Nam đã chứng minh năng lực tự cường đáng kinh ngạc. Điển hình như tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST), nhóm nghiên cứu của PGS.TS. Trương Thị Ngọc Liên, ThS. Nguyễn Thị Thanh Huyền cùng các cộng sự Phòng Công nghệ Tích hợp IT-BT đã kiên trì theo đuổi hướng làm chủ nền tảng công nghệ, để rồi tháng 3-2026 chính thức được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Bằng giải pháp hữu ích số 4859 cho công nghệ que thử hai nhãn màu thế hệ mới (LFIA), bước đầu chế tạo thành công các nguyên mẫu phát hiện dấu ấn ung thư và mầm bệnh nguy hiểm.
Không dừng lại ở nỗ lực của từng đơn vị, sức bật từ sự liên kết học thuật đỉnh cao giữa Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và Đại học Quốc gia Hà Nội đã đưa nghiên cứu trong nước vươn tầm quốc tế. Ngày 30/6/2026, Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) đã chính thức cấp Bằng sáng chế cho nhóm bốn nhà khoa học gồm PGS.TS. Phạm Kim Ngọc, ThS. Phạm Phú Quân, GS.TS. Phan Bách Thắng và PGS.TS. Nguyễn Trần Thuật với phát minh cấu trúc memristor sử dụng màng oxit crom – một linh kiện nhớ mang tính then chốt mở đường cho việc phát triển điện toán nơ-rôn nhân tạo và chip AI thế hệ mới.
Những thành tựu tầm vóc ấy khẳng định: Trí thức Việt Nam hoàn toàn đủ sức chinh phục đỉnh cao khoa học toàn cầu ngay trên mảnh đất quê hương nếu cấp ủy và người đứng đầu đủ bản lĩnh kiến tạo cho họ một bệ phóng thực sự xứng tầm.