Với chiều dài khoảng 349 km, đi qua 7 tỉnh, thành phố và được triển khai thành 22 dự án thành phần, Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội là dự án hạ tầng có quy mô rất lớn, tác động trực tiếp đến không gian phát triển của cả vùng.
Trao đổi về chủ trương đầu tư dự án, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng) cho rằng, cùng với yêu cầu bảo đảm tiến độ, cần đặt trọng tâm vào hiệu quả khai thác, khả năng kết nối liên vùng và sử dụng nguồn lực một cách có trọng điểm. Đặc biệt, những đoạn tuyến có khả năng hoàn thành, khai thác độc lập và nhanh chóng tạo hiệu quả cần được ưu tiên, đồng thời phải bảo đảm quyền lợi, sinh kế lâu dài của người dân trong vùng dự án.
+ Thưa đại biểu, Quốc hội đang xem xét chủ trương Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Theo bà, đâu là ý nghĩa lớn nhất của dự án này trong tổng thể phát triển hạ tầng giao thông và không gian kinh tế khu vực phía Bắc?
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga: Tôi cho rằng, cần nhìn Vành đai 5 ở một phạm vi rộng hơn một dự án giao thông đơn thuần. Với chiều dài khoảng 349 km, đi qua 7 tỉnh, thành phố và kết nối với nhiều tuyến giao thông quan trọng, đây là công trình có khả năng tác động trực tiếp đến tổ chức lại không gian phát triển của cả vùng.
Nếu chỉ nhìn Vành đai 5 như một tuyến đường để giảm tải cho khu vực Vùng Thủ đô thì chưa thể thấy hết giá trị của dự án. Điều quan trọng hơn là tuyến đường có thể tạo ra những kết nối mới giữa các địa phương, các khu công nghiệp, trung tâm logistics, đô thị, cảng biển, cảng hàng không và các đầu mối giao thông lớn. Khi những kết nối này được hình thành đồng bộ, dòng lưu chuyển hàng hóa, lao động và các nguồn lực phát triển sẽ thuận lợi hơn, từ đó tạo thêm dư địa cho tăng trưởng.
Ở góc độ thành phố Hải Phòng, tôi đặc biệt quan tâm đến khả năng kết nối của Vành đai 5 với hệ thống cảng biển và các trung tâm logistics. Một tuyến giao thông liên vùng tốt không chỉ giúp phương tiện đi lại thuận lợi mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Hàng hóa từ các khu sản xuất đến được các đầu mối logistics, cảng biển nhanh hơn, chi phí vận chuyển giảm xuống thì hiệu quả của toàn bộ chuỗi sản xuất, phân phối cũng được nâng lên.
+ Một vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm là nguồn lực. Toàn tuyến dài khoảng 349 km nhưng giai đoạn 2026 - 2030 mới ưu tiên khoảng 116 km, trong khi nhu cầu vốn rất lớn. Theo bà, nên xác định thứ tự ưu tiên như thế nào?
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga: Trong điều kiện nguồn lực luôn phải được cân đối với nhiều nhiệm vụ phát triển khác của đất nước, tôi cho rằng không nên chia vốn theo kiểu dàn đều cho các địa phương hoặc chia đều theo chiều dài tuyến.
Điều quan trọng là phải lựa chọn được những đoạn tuyến có khả năng phát huy hiệu quả rõ ràng, có thể hoàn thành và khai thác độc lập, đồng thời tạo ra hiệu ứng kết nối với mạng lưới giao thông hiện hữu. Những đoạn đã tương đối sẵn sàng về mặt bằng, nguồn lực và có khả năng sớm hình thành năng lực kết nối thì nên được xem xét ưu tiên.
Cách làm này sẽ giúp nguồn vốn bỏ ra sớm tạo ra sản phẩm cụ thể và hiệu quả cụ thể. Nếu vốn bị chia nhỏ trên một tuyến rất dài, nhiều đoạn cùng triển khai nhưng không đoạn nào đủ điều kiện hoàn thành, thì có nguy cơ kéo dài thời gian đầu tư mà hiệu quả mạng lưới lại chưa hình thành.
Tôi cũng cho rằng cần có cơ chế để phát huy tính chủ động của các địa phương. Nếu địa phương nào đã chủ động chuẩn bị nguồn lực, mặt bằng, có điều kiện triển khai và chứng minh được hiệu quả của đoạn tuyến thì cần nghiên cứu cơ chế phù hợp để không làm mất đi cơ hội phát triển của địa phương đó.
+ Trong một dự án đi qua 7 địa phương, công tác giải phóng mặt bằng chắc chắn là một trong những khâu quyết định tiến độ. Bà nhìn nhận vấn đề này thế nào?
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga: Đây là vấn đề tôi cho rằng cần đặc biệt thận trọng. Một dự án lớn như Vành đai 5 tác động đến diện tích đất rất lớn, trong đó có đất sản xuất, đất ở và nhiều loại đất khác. Vì vậy, giải phóng mặt bằng không thể chỉ được nhìn dưới góc độ hoàn thành thủ tục để có mặt bằng thi công.
Điều người dân quan tâm nhất là sau khi đất bị thu hồi, cuộc sống của họ sẽ như thế nào. Nếu phải di chuyển chỗ ở thì nơi ở mới có bảo đảm điều kiện sống hay không; nếu mất đất sản xuất thì việc làm và thu nhập được bảo đảm như thế nào. Đây là những vấn đề phải được tính toán ngay từ đầu.
Tôi rất đồng tình với quan điểm rằng đầu tư hạ tầng phải đồng bộ với tái thiết cuộc sống của người dân. Một dự án có thể hoàn thành đúng tiến độ về mặt kỹ thuật nhưng nếu sau đó người dân bị ảnh hưởng phải đối mặt với khó khăn về sinh kế thì chưa thể nói dự án đã đạt hiệu quả toàn diện.
Vì vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần được thực hiện công khai, minh bạch, đúng quy định và sát thực tế. Đối với những trường hợp mất đất sản xuất, cần quan tâm đến việc chuyển đổi nghề, tạo sinh kế. Mục tiêu cuối cùng là người dân phải được hưởng thành quả phát triển từ chính công trình được xây dựng trên địa bàn của mình.
+ Có ý kiến đề nghị không thu hồi đất toàn tuyến khi chưa xác định rõ nguồn vốn đầu tư, trong khi dự án mới ưu tiên khoảng 116 km trong giai đoạn đầu. Theo bà, đây có phải là vấn đề cần được làm rõ trong Nghị quyết?
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga: Tôi cho rằng cần phải bảo đảm sự thống nhất giữa chủ trương, nguồn lực và tổ chức thực hiện. Nếu giai đoạn này mới xác định đầu tư một số đoạn tuyến thì việc thu hồi đất cũng cần được tính toán phù hợp với tiến độ và khả năng bố trí vốn.
Đây không chỉ là câu chuyện sử dụng ngân sách hiệu quả mà còn liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Nếu thu hồi đất quá sớm đối với những khu vực chưa xác định được thời điểm triển khai, người dân có thể rơi vào tình trạng chờ đợi kéo dài, khó chủ động trong sản xuất, kinh doanh và ổn định cuộc sống.
Do đó, tôi cho rằng nguyên tắc không thu hồi đất khi chưa xác định được nguồn vốn và kế hoạch triển khai cần được thể hiện thật rõ trong quá trình hoàn thiện chính sách. Những đoạn chưa đủ điều kiện đầu tư thì cần có phương án quản lý quỹ đất phù hợp với quy hoạch, tránh gây xáo trộn không cần thiết cho người dân.
+ Dự án được đề xuất nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, trong đó có những cơ chế đã từng được áp dụng ở các dự án giao thông lớn. Theo bà, làm thế nào để vừa tháo gỡ được điểm nghẽn, vừa bảo đảm kiểm soát quyền lực và nguồn lực?
ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga: Cơ chế đặc thù là cần thiết đối với một dự án có quy mô lớn, phạm vi liên vùng và yêu cầu tiến độ cao. Nhưng đặc thù không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Ngược lại, càng phân cấp, càng phải xác định rõ trách nhiệm và cơ chế kiểm tra, giám sát.
Tôi cho rằng cần phân định rất rõ những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội và những vấn đề có thể giao Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương chủ động xử lý. Những thay đổi làm ảnh hưởng đến mục tiêu, quy mô cơ bản, tổng mức đầu tư hoặc cơ cấu nguồn lực thì phải được kiểm soát chặt chẽ. Còn những vấn đề kỹ thuật phát sinh trong quá trình triển khai, nếu vẫn nằm trong các giới hạn đã được xác định, nên giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý để tránh phải chờ đợi, làm chậm tiến độ.
Đối với chỉ định thầu, khai thác khoáng sản phục vụ dự án hay các cơ chế đặc thù khác cũng vậy. Nếu được áp dụng thì phải có điều kiện, tiêu chí và phạm vi rõ ràng, công khai, minh bạch, đồng thời có cơ chế giám sát để ngăn ngừa lợi dụng chính sách.
+ Xin trân trọng cảm ơn Đại biểu!