Về Quán Gánh thưởng thức bánh dày dẻo thơm làng Thượng Đình

(CLO) Người từ phương xa tới thăm Quán Gánh đều mang về nỗi niềm nhớ thương thức quà bánh dày trắng ngần, dẻo thơm của làng nghề lâu đời Thượng Đình. Nỗi niềm ấy vấn vương mọi giác quan, khiến khách đi xa phải quay lại tìm về hương vị quá vãng xưa.

Dọc theo quốc lộ 1A đoạn nối Hà Nội với các tỉnh phía Nam, tại km số 16, những gian hàng mang biển “Bánh dày Quán Gánh” xuất hiện nhiều. Những chồng bánh gói lá xanh mướt, để chật kín trong tủ kính thu hút bao người dừng xe chọn mua. Đây là thức quà sinh ra từ làng Thượng Đình, phố Quán Gánh, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.  

ve quan ganh thuong thuc banh day deo thom lang thuong dinh hinh 1

Những hàng bánh dày nối tiếp trên con đường quốc lộ.

Tinh túy từ lâu đời

Không ai ở làng Thượng Đình nhớ chính xác làng mình làm bánh dày từ bao giờ, chỉ biết rằng từ nhỏ đã thuộc lòng câu ca dao:

“Dù ai chồng rẫy, vợ chê,

Bánh dày Quán Gánh lại về với nhau.

Ăn trước thì bảo người sau,

Già ăn trẻ lại, gái mau đắt chồng”

Mang danh như thức quà có “phép màu”, gắn kết giữa đất với trời, giúp người già trẻ lại, người có tình tìm về với nhau, bánh dày Quán Gánh nức tiếng gần xa suốt bao đời nay.

ve quan ganh thuong thuc banh day deo thom lang thuong dinh hinh 2

Cổng làng cổ tách biệt làng nghề với con đường lớn nườm nượp xe qua lại.

Hàng trăm năm nay, tiếng chày giã bánh, tiếng người gọi nhau vo gạo, đãi đỗ, thổi xôi, nặn bánh chưa một ngày ngơi nghỉ trên mảnh đất nhỏ của huyện Thường Tín. Về làng Thượng Đình, tách biệt khỏi con đường lớn xô bồ, đi qua cổng làng cổ kính, phủ kín rêu phong, ta tìm về với nơi làm lên thứ đặc sản đã vấn vương bao nhiêu bước chân người khách phương xa.

Để có được chiếc bánh dày ngon, khách ăn một lại muốn ăn hai, thưởng thức một lần vấn vương tới mãi sau, dân làng Thượng Đình từ xưa đã truyền nhau thực hiện các công đoạn làm bánh, mang đậm màu sắc dân tộc nhưng giữ được sự đặc trưng riêng, không thể trộn lẫn.

ve quan ganh thuong thuc banh day deo thom lang thuong dinh hinh 3

Bà Trương Thị Hiền đang rửa từng chiếc lá, phơi khô để gói bánh dày.

“Nhà tôi làm bánh dày đến đời tôi là 4 đời, đến đời các con tôi thì là đời thứ 5 rồi. Nhà mẹ đẻ tôi cũng làm bánh dày, đến khi lấy chồng làm dâu về đây cũng vẫn nối nghiệp bánh dày. Phụ làm mấy năm thì được mẹ chồng truyền nghề và theo nghề đến bây giờ. Nghĩ đây là nghề gia truyền, là cái “hồn” mà tổ tiên mình bao đời truyền lại, chúng tôi lại càng cố gắng hơn nữa, giữ gìn trong mỗi chiếc bánh dày”, nghệ nhân làm bánh Trương Thị Hiền (60 tuổi) tại làng Thượng Đình chia sẻ.

Phụ mẹ cha làm bánh từ tấm bé, chính thức theo nghề tới nay đã hơn 40 năm, bà Hiền tự hào cho biết từ khâu chọn nguyên liệu để làm bánh dày đã phải tuân theo những quy củ nghiêm ngặt: “Nguyên liệu làm bánh chủ yếu là nếp cái hoa vàng, nếp quýt và đậu xanh lòng vàng và hương cà cuống. Trước đây, tất cả các nguyên liệu trên đều được sản xuất ở quê hương nhưng nay chúng tôi lấy gạo từ Hải Hậu, Nam Định. Hạt gạo trắng ngần, chắc mẩy, thơm nức mũi là bí quyết hàng đầu được tổ tiên truyền lại”.

ve quan ganh thuong thuc banh day deo thom lang thuong dinh hinh 4

Nguyễn Văn Trường - chồng bà Hiền chỉ còn một tay có thể làm việc do tai nạn khi đi giao bánh dày. Tuy nhiên, ông vẫn có thể tham gia tất cả các khâu làm bánh, giúp đỡ gia đình tạo nên những mẻ bánh hoàn hảo.

ve quan ganh thuong thuc banh day deo thom lang thuong dinh hinh 5

Gạo nếp cái hoa vàng chắc mẩy, dùng để đồ xôi làm vỏ bánh.

ve quan ganh thuong thuc banh day deo thom lang thuong dinh hinh 6

Đỗ cũng được tuyển chọn kỹ lưỡng để làm nhân bánh.

ve quan ganh thuong thuc banh day deo thom lang thuong dinh hinh 7

Máy hỗ trợ giã vỏ bánh, tuy nhiên yêu cầu người thợ bánh phải đảo đều, tập trung cao độ khi làm vỏ bánh.

Gạo nếp làm bánh phải là thứ gạo có độ dẻo cao, có mùi rất thơm. Trước khi làm bánh, gạo được chọn rất kỹ, hạt gạo phải đều nhau, không lẫn tẻ, không bạc bụng, không lẫn sạn…. Gạo phải được giã kỹ, trắng muốt, sau khi giã phải giần sạch cám, sảy hết muội trấu. Khi vốc vào tay, hạt gạo óng mát và thoang thoảng mùi thơm.

Gạo được đem vo cẩn thận, đãi sạch qua nhiều lần nước rồi ngâm khoảng 2,3 giờ trước khi cho vào chõ đồ xôi. Khi xôi gần chín, vẩy thêm ít nước ấm tay để xôi chín đều, chín rền. Khi xôi phả mùi thơm nức, đem đổ ra cối hoặc buồm cói trải trên nền gạch, khẩn trương dùng chày giã nóng. Khi giã xôi đạt độ nhuyễn, quyện vào nhau thành một khối dẻo quánh, trong trắng. Người thợ dùng tay sạch để vắt thành những nắm nhỏ, đều nhau và dàn vỏ bánh cho dẹt đều, sau đó bỏ nhân vào và vê kín lại… Để chiếc bánh có hình tròn, lòng chảo, người thợ phải bóp nhẹ tay cho chiếc bánh hơi dẹt. Làng nghề có câu “vo tròn rồi bóp bẹp”. 

Những chiếc bánh trắng ngần ra lò được quét lớp mỡ lợn mỏng, xếp 6 chiếc vào một lá, gói vuông vức bằng lạt hồng. Hòa quyện tinh túy quê hương với công sức người làm ra nó, thấm đẫm trong từng miếng bánh.

“Làng nghề sẽ không thất truyền”

Đó là câu khẳng định của nghệ nhân Trương Thị Hiền bởi theo bà: “Chỉ còn cần có người ăn thì làng Thượng Đình hãy còn làm bánh dày. Mà bánh dày là thức bánh truyền thống của dân tộc ta, cùng với bánh chưng tượng trưng cho đất và trời nên sẽ tồn tại mãi mãi cùng văn hóa người Việt”.

ve quan ganh thuong thuc banh day deo thom lang thuong dinh hinh 8

Những chiếc bánh trắng ngần, dẻo thơm là thành quả của những đêm không ngủ từ bàn tay người thợ làm bánh.

Khác với những gia vị đơn giản như ngày xưa, ngày nay, những chiếc bánh dày Quán Thánh được những người thợ làm bánh “cải tiến” để làm nên những chiếc bánh phù hợp với khẩu vị người ăn.  

Bánh được làm thành 3 loại, vỏ như nhau nhưng nhân lại khác nhau: Nhân ngọt, nhân mặn và bánh chay để đáp ứng sở thích của khách thưởng thức. Bánh ngọt tức là nhân đỗ xanh đã nấu chín rồi xào đường. Nhân mặn được làm từ đỗ xanh, sợi cùi dừa, hành, thịt ba chỉ có hương cà cuống. Bánh chay tức là bánh không có nhân, ăn với chả quế hoặc chè đường.

Bánh dày Quán Gánh từ xưa đến nay luôn được khách vãng lai dừng chân thưởng thức và mua về làm quà biếu ông bà, cha mẹ và đón tay cho trẻ hoặc thắp hương tổ tiên ngày tuần rằm. Đặc biệt, từ những năm đất nước bước vào thời kỳ đổi mới tới nay, đời sống của nhân dân ngày được nâng cao, dân làng Thượng Đình ngày đêm tấp nập làm bánh theo đơn đặt hàng của các đám lễ hội, đám du lịch đường dài và đặc biệt là các đám cưới hỏi đặt càng ngày càng đông.

ve quan ganh thuong thuc banh day deo thom lang thuong dinh hinh 9

Nghệ nhân Trương Thị Hiền với thức bánh bà nâng niu suốt cuộc đời.

ve quan ganh thuong thuc banh day deo thom lang thuong dinh hinh 10

Những chiếc bánh gói vuông vức bằng lạt đỏ, tem hỉ bắt mắt, đẹp đẽ.

ve quan ganh thuong thuc banh day deo thom lang thuong dinh hinh 11

Là thức quà người dân mời những vị khách phương xa ghé chơi, thưởng thức.

“Thời cha mẹ chúng tôi thường phải đội lên đầu những thúng bánh to, đi lên những chuyến tàu về Nam Định, Hưng Yên, Phú Thọ, Bắc Giang, Bắc Ninh... để giao bán bánh. Bánh chỉ ăn được trong ngày nên lúc nào cũng cố bán hết trong hôm nay thôi. Thời ấy làm bánh dày khó khăn mà nghèo lắm.

Ngày nay, có hôm nhiều nhất nhà tôi làm tới 6000 chiếc bánh, giao tới những đám cỗ, hiếu hỉ có cả. Họ rất chuộng và yêu thích bánh dày. Ngoài ra, mỗi ngày chúng tôi cũng làm một lượng bánh để đổ buôn cho những người bánh bánh ở ngoài chợ, đường quốc lộ. Tuy thu nhập từ đó không nhiều, nhưng nó là khoản thu cố định”, bà Hiền cho biết.

Đi cùng với sự phát triển của đất nước, bánh dày Quán Thánh làng Thượng Đình cũng có những đổi mới, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế cho nhiều hộ dân nơi đây. Vừa gìn giữ được nét đẹp truyền thống hàng trăm năm của làng vừa mang lại thu nhập cho gia đình, những người dân nơi đây luôn yêu nghề làm bánh, yêu những chiếc bánh trắng trong, dẻo thơm, mang tinh túy của đất trời, con người đất Việt.

Bài và ảnh: Minh Anh 

Xem thêm

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

(NB&CL) Giữa tháng 5 năm 2026, tôi tìm trên giá sách riêng, tập hợp được hơn chục tác phẩm của nhà văn, nhà báo Nguyễn Khắc Phê. Cuốn sách xuất bản gần đây nhất in 1500 bản của ông ra mắt đầu năm 2026 có tựa đề “Quảng Trị - Vùng đất hội tụ” (Nhà Xuất bản Hội Nhà văn).

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

(NB&CL) Để bảo tàng tư nhân “sống sót” và hoạt động chuyên nghiệp là câu chuyện hoàn toàn không đơn giản. Thực tế tại Việt Nam, không hiếm chuyện chủ nhân bảo tàng rơi vào cảnh “vừa làm chủ, vừa làm nhân viên” vì nguồn lực tài chính hạn hẹp. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Huy (nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người sáng lập Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên), Nhà nước cần có chính sách để thu hút các nguồn lực tài trợ cho hoạt động bảo tàng, từ đó tạo điểm tựa vững chắc cho các bảo tàng tư nhân phát triển bền vững.

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

(NB&CL) Với việc trưng bày các hiện vật đến từ nhiều nền văn hóa, nhiều bảo tàng tư nhân đang thực hiện tiêu chí và thông điệp cốt lõi của UNESCO là góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa các dân tộc, xóa bỏ sự ngăn cách và tệ nạn phân biệt đối xử về văn hóa, tôn vinh các giá trị nhân văn, nhân đạo giữa các dân tộc.

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

(CLO)- Ban tổ chức Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026 vừa chính thức ban hành quy chế sửa đổi với hàng loạt điều chỉnh quan trọng. Việc khôi phục trọn vẹn thể thức hai vòng đấu sau nhiều năm gián đoạn cùng những thay đổi bước ngoặt trong luật phân định thắng thua là những điểm mới cốt lõi nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng chuyên môn cho di sản văn hóa phi vật thể quốc gia này.

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

(CLO) Với người Khmer Nam Bộ, việc vào chùa tu học không đơn thuần là thực hành tín ngưỡng mà còn là cách báo hiếu cha mẹ, rèn luyện đạo đức và đánh dấu bước trưởng thành của một người đàn ông trước khi bước vào cuộc sống gia đình, xã hội.

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

(CLO) Chương trình Phát triển thủ công đương đại trên nền tảng Di sản làng nghề trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 được khởi động với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái kết nối giữa nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, góp phần đưa nguồn lực di sản trở thành động lực cho sáng tạo và phát triển bền vững.

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

(CLO) Lần đầu tiên, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) triển khai dự án truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã mang tên “Vietnam Wild Live - Kết nối thiên nhiên, lan tỏa nhận thức”, đưa những hình ảnh chân thực của hệ sinh thái tự nhiên đến với khán giả trong và ngoài nước.

Cỡ chữ bài viết: