Ngày 25/5, tại cuộc họp báo cáo về tình hình triển khai truy xuất nguồn gốc nông sản phục vụ quản lý sản xuất, xuất khẩu và minh bạch hóa thông tin chuỗi cung ứng nông sản, ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, thời gian qua, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã được đưa vào vận hành thí điểm với mặt hàng sầu riêng và đang tiếp tục hoàn thiện để mở rộng sang nhiều nhóm nông sản khác.
Đến ngày 25/5/2026, hệ thống đã cập nhật 1.396 dòng dữ liệu của 112 sản phẩm, kết nối 17.987 cơ sở sản xuất tại 14 tỉnh, thành phố. Trong đó có 149 doanh nghiệp, 547 nông hộ, 255 vùng trồng và 919 lô hàng tham gia thông qua 4 đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ.
Theo ông Nguyễn Văn Long, mô hình quản lý theo chuỗi dựa trên dữ liệu đã tạo ra chuyển biến rõ rệt trong hoạt động xuất khẩu nông sản. Lô hàng sầu riêng “luồng xanh” được tổ chức xuyên suốt từ vùng trồng, thu hoạch, đóng gói, vận chuyển đến thông quan chỉ trong 6 ngày, rút ngắn đáng kể so với mức 8 - 11 ngày trước đây, thậm chí có thời điểm kéo dài tới 21 ngày.
Bên cạnh đó, khoảng 23.000 tem truy xuất nguồn gốc đã được dán lên sản phẩm; toàn bộ dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực với sự tham gia của doanh nghiệp, nông hộ, đơn vị công nghệ và cơ quan quản lý.
Dù đạt kết quả tích cực, việc triển khai truy xuất nguồn gốc hiện vẫn tồn tại nhiều hạn chế như mức độ tham gia chưa đồng đều giữa các địa phương; dữ liệu còn phân tán, thiếu chuẩn hóa; hệ thống pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật chưa hoàn thiện. Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực đầu tư còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào hỗ trợ từ doanh nghiệp và các đơn vị công nghệ, gây khó khăn cho việc mở rộng trên phạm vi toàn quốc.
Để khắc phục, ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ đề xuất cần làm rõ trách nhiệm của địa phương trong từng khâu, đặc biệt là việc nhập liệu, cập nhật và xác thực thông tin trên hệ thống. Đồng thời, cần mở rộng phạm vi triển khai để nhiều doanh nghiệp đủ điều kiện có thể tham gia thay vì chỉ dừng ở mô hình thí điểm.
Đồng tình với đề xuất trên, ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho rằng quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói và quy trình sản xuất là những mắt xích trực tiếp quyết định chất lượng và tính hợp lệ của dữ liệu truy xuất nguồn gốc.
Theo ông Đạt, thời gian tới, đơn vị sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các tiêu chuẩn phù hợp với yêu cầu từng thị trường; hướng dẫn doanh nghiệp tuân thủ quy trình xuất khẩu; đồng thời phối hợp với địa phương trong việc cấp mã số vùng trồng và kiểm soát chất lượng sản phẩm.
Từ yêu cầu thực tiễn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh, truy xuất nguồn gốc cần được đặt trong tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững với ba trụ cột gồm quy hoạch vùng nguyên liệu, quản lý mã số vùng trồng và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ.
Trong đó, quy hoạch vùng nguyên liệu đóng vai trò nền tảng nhằm bảo đảm phát triển có định hướng, phù hợp điều kiện sinh thái và nhu cầu thị trường. Quản lý mã số vùng trồng là điều kiện bắt buộc để tham gia xuất khẩu chính ngạch, đòi hỏi việc cấp và giám sát phải chặt chẽ.
Cùng với đó, truy xuất nguồn gốc được xác định là công cụ minh bạch hóa toàn bộ chuỗi sản xuất. Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngành nông nghiệp cần coi dữ liệu là nền tảng của quản trị hiện đại.
Thứ trưởng Võ Văn Hưng yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ số như GIS, QR code, nhật ký điện tử, blockchain và IoT nhằm tăng tính minh bạch, giảm gian lận thương mại và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.