Bán sân bay, cảng biển, đường cao tốc: Cơ hội cho kinh tế tư nhân

Ngay khi Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) thông báo chủ trương bán một số sân bay, cảng biển, đường cao tốc… để lấy vốn đầu tư phát triển thêm hạ tầng giao thông, nhiều chuyên gia đã lên tiếng ủng hộ. Việc một số doanh nghiệp tư nhân đề xuất mua quyền khai thác sân bay đã mở ra cơ hội cho cộng đồng doanh nghiệp tư nhân nói chung tham gia các lĩnh vực dịch vụ mà lâu nay vốn độc quyền nhà nước. Áp lực cạnh tranh sẽ khiến họ phải làm tốt, mang lại phúc lợi cho xã hội.

(NB&CL) - Ngay khi Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) thông báo chủ trương bán một số sân bay, cảng biển, đường cao tốc… để lấy vốn đầu tư phát triển thêm hạ tầng giao thông, nhiều chuyên gia đã lên tiếng ủng hộ. Việc một số doanh nghiệp tư nhân đề xuất mua quyền khai thác sân bay đã mở ra cơ hội cho cộng đồng doanh nghiệp tư nhân nói chung tham gia các lĩnh vực dịch vụ mà lâu nay vốn độc quyền nhà nước. Áp lực cạnh tranh sẽ khiến họ phải làm tốt, mang lại phúc lợi cho xã hội.

Việc nhượng quyền kinh doanh sân bay, cảng biển cho tư nhân là nên làm nhưng cần thận trọng

Bước thay đổi tư duy

Ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý Trung ương (CIEM) cho rằng, đây là tín hiệu tốt bởi nhiều quốc gia hiện đại trên thế giới đã và đang đi theo xu hướng này. Nếu dành cho tư nhân quyền khai thác sân bay sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh “bắt” họ phải làm tốt, từ đó tạo ra phúc lợi cho xã hội và người dân sẽ được hưởng lợi.

“Trái tim của kinh tế thị trường là cạnh tranh. Bạn đến một nhà hàng ẩm thực không phải vì sự hiếu khách của chủ tiệm mà vì những món ăn ngon bắt nguồn từ sự cạnh tranh. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tư nhân luôn mang lại hàng hóa tốt nhất cho khách hàng”, ông Võ Trí Thành phân tích.

Cũng theo chuyên gia này, việc nhượng quyền khai thác sân bay cho tư nhân chính là thực hiện theo quan điểm của Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã khẳng định tại cuộc họp về “Đề án huy động vốn xã hội hóa để đầu tư kết cấu hạ tầng hàng không” của Bộ GTVT mới đây rằng “tất cả những gì tư nhân làm được thì để tư nhân làm.

“Thực tế việc này các quốc gia khác đã làm từ lâu. Nhưng với Việt Nam, đây là một bước thay đổi tư duy rất lớn. Tất nhiên, những bộ phận bắt buộc phải có vai trò của Nhà nước thì Nhà nước vẫn phải làm. Trên thực tế, một số cửa hàng trong sân bay hiện vẫn đang do doanh nghiệp tư nhân đảm nhiệm và họ cũng đang làm rất tốt”, ông Võ Trí Thành nhận định.

Chia sẻ quan điểm về vấn đề này, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng: “Tôi rất hoan nghênh nếu các doanh nghiệp tư nhân được tham gia trong các lĩnh vực khai thác sân bay, cảng biển, đường cao tốc… Sự thay đổi tư duy ở đây chính là tạo ra sự cạnh tranh. Việc gây ra áp lực cạnh tranh là vô cùng quan trọng trong kinh tế thị trường để tạo ra những sản phẩm tốt cho khách hàng sử dụng dịch vụ bởi quan niệm “Bỏ vốn ra thì phải làm tốt. Nếu không làm tốt thì phải để người khác làm.

Trong những thông điệp gần đây, nhà nước luôn nhấn mạnh đến sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, nhất là trong tiếp cận nguồn lực như vốn, đất đai, hạ tầng.

Và việc cho phép các nhà đầu tư tư nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực hàng không sẽ tạo tiền đề để kêu gọi và thu hút vốn tư nhân và cả nước ngoài vào lĩnh vực cảng hàng không, sân bay ở Việt Nam.

Cũng cần “chọn mặt gửi vàng”

Góp ý “Không nhất thiết có lãi ngay mới bán”, theo nhiều chuyên gia là dành cho việc bán đường cao tốc. Không phải ngẫu nhiên, các chuyên gia đưa ra lời khuyên này. Tiến sĩ Trần Du Lịch giải thích, phần lớn đường cao tốc ở Việt Nam có chi phí đầu tư xây dựng cao so với nhiều nước trên thế giới. Nếu giá bán đường cao tốc căn cứ theo mức phí đầu tư và chỉ cho phép thu phí theo mức quy định, khó có nhà đầu tư muốn mua vì thời gian thu hồi vốn quá dài. Ngược lại, chấp nhận cho nhà đầu tư thu phí giao thông trên đường cao tốc, nếu thu cao thì không thu hút các phương tiện giao thông sử dụng con đường này.

Hiện nay, với mức phí đang được áp dụng, gần như chỉ có các phương tiện giao thông đắt tiền, chủ yếu là xe cá nhân, xe doanh nghiệp nhà nước mới “dám” đi vào đường cao tốc. Xe container, xe tải và nhiều loại xe khách rẻ tiền khác vẫn chọn các tuyến đường cũ để đi vì chi phí rẻ hơn. Bộ GTVT nên cân nhắc thực tế này. Thậm chí, nếu cần, Nhà nước chịu lỗ khi bán đường cao tốc. Mục tiêu lớn nhất lúc này là thu hồi (một phần) vốn đã đầu tư đường cao tốc để đầu tư thêm đường cao tốc mới.

Bộ GTVT nên rà soát lại tất cả các khoản chi phí, những khoản nào có thể tiết giảm được như lãi ngân hàng phát sinh vì nhà đầu tư phải chờ mặt bằng lâu… nên cố gắng xử lý dứt điểm. Chỉ khi đưa được chi phí xây dựng đường cao tốc về mức hợp lý mới thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia.

Đề xuất chung cho cả việc bán sân bay, cảng biển, đường cao tốc, tiến sĩ Huỳnh Thế Du cho rằng Nhà nước phải đưa ra được các yêu cầu cụ thể cho việc khai thác cũng như đầu tư nâng cấp sân bay, cảng biển, đường cao tốc. Nhiều nước ở Nam Mỹ đã từng có bài học cay đắng về việc bán hoặc nhượng quyền khai thác hạ tầng kỹ thuật cho tư nhân. Tư nhân hầu như không đầu tư gì cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật mà họ được chuyển quyền khai thác mà chỉ tập trung khai thác cho đến khi… không còn gì. Cuối cùng, họ bỏ đi và để lại cho Nhà nước một hệ thống hạ tầng kỹ thuật đã lạc hậu, xuống cấp. Tuyệt đối không nên nóng vội mà cân nhắc thật kỹ hiệu quả quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật (định bán) của bộ máy cán bộ hiện nay với hiệu quả có thể thu được khi bán. Nếu bán hoặc chuyển nhượng quyền khai thác có hiệu quả hơn thì bán, còn không, chờ cơ hội mới.

Sân bay, cảng biển, đường cao tốc không chỉ có ý nghĩa là khối tài sản lớn của đất nước mà còn có ý nghĩa không nhỏ trong việc ổn định trật tự, phát triển kinh tế đất nước. Chính vì vậy phải “chọn mặt” trước khi quyết định “gửi vàng.

Tính đến thời điểm này, Chính phủ mới chỉ cho phép khởi động dưới hai hình thức: bán quyền khai thác các dự án và bán vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hóa. Còn việc bán các dự án hạ tầng là chưa từng xảy ra.

Thực tế, trong lĩnh vực đường bộ, tháng 10/2014, dự án đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng dài 105 km đang đã được Tổng Công ty Phát triển đầu tư hạ tầng và tài chính Việt Nam (VIDIFI) là chủ đầu tư ký hợp đồng ghi nhớ bán 70% cổ phần cho nhóm các nhà đầu tư gồm IL& FS Transportation Networks Limited (ITNL), Strategic Alliance Holdings (SAHI) và Tung Shing Groups (Tung Shing). Trong lĩnh vực hàng hải, Nhà nước đã dùng vốn ODA của Nhật Bản để đầu tư xây dựng cảng quốc tế Thị Vải. Và tháng 3/2014, cảng này cũng đã được liên danh cảng Sài Gòn – PTSC – PM – Commodities thuê lại từ Cục Hàng Hải để khai thác trong thời hạn 30 năm với giá là 130 triệu USD. Hay như trong lĩnh vực du lịch, mới đây, Tập đoàn Bitexco thuộc Công ty Trách nhiệm Hữu hạn kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Minh đã đề xuất với Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc nhượng quyền thu phí và quản lý Vịnh Hạ Long với thời hạn lên tới 50 năm.

Nguyên Huy

ĐỂ TƯ NHÂN LÀM, SẼ TỐT HƠN!

Việc nhượng quyền khai thác sân bay, đường cao tốc, cảng biển… không còn mới mẻ đối với nhiều nước trên thế giới bởi hầu hết các dự án hạ tầng nói trên của họ đều đang do tư nhân sở hữu. Xu hướng này cũng đã lan sang châu Á và các nước đang phát triển. Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành – người có nhiều năm sống và làm việc ở Pháp và Mỹ cho biết, hầu hết các nước không chuyển quyền sở hữu những hạ tầng trên mà chỉ chuyền quyền khai thác dịch vụ. Việc tư nhân hóa các sân bay nói riêng và lĩnh vực giao thông nói chung có lợi ích cho Nhà nước ở chỗ thu hút được nguồn vốn tư nhân. Còn đối với tư nhân, đầu tư vào sân bay khá an toàn vì sẽ mang lại dòng tiền đều đặn. Nếu kinh doanh tốt sẽ mang lại lợi nhuận lớn. Và ngay cả khi lợi nhuận không nhiều, thì khoản đầu tư này cũng vẫn có xu hướng sinh lợi đều đặn do ít rủi ro.

Dù luật pháp Việt Nam chưa cho phép chuyển quyền sở hữu chính thức các dự án hạ tầng mà chỉ được phép chuyển quyền khai thác, cho thuê lại tài sản hoặc cho thuê tài sản gắn liền với đất… song dù dưới hình thức nào thì cũng đồng nghĩa với việc Nhà nước sẽ rút khỏi vai trò kinh doanh để nhường cho các doanh nghiệp tư nhân, từ đó tạo tính cạnh canh trên thị trường. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là khi nhận được quyền khai thác các dự án hạ tầng rồi thì liệu tư nhân có làm tốt hơn?

Thực chất việc trao quyền kinh doanh khai thác này là tốt hay xấu còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Cách lựa chọn doanh nghiệp để trao quyền? Doanh nghiệp được khai thác kinh doanh sẽ tổ chức hoạt động như thế nào? Khâu giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước với doanh nghiệp ra sao?... Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng: “Phải xem đối tượng nào được nhượng quyền? Họ có thể hấp thụ được không? Những điều kiện ràng buộc như thế nào? Bảo trì bảo dưỡng? Chứ nếu để họ khai thác vô tội vạ thì sẽ gây hại cho tài sản quốc gia”. Dù vậy, ông cũng khẳng định để cho tư nhân khai thác các công trình hạ tầng thì sẽ hiệu quả hơn Nhà nước. “Tư nhân là người bỏ vốn ra nên họ sẽ có trách nhiệm làm thế nào để ra sản phẩm tốt phục vụ người tiêu dùng. Những lĩnh vực như: y tế, giáo dục… buộc họ phải làm tốt thì mới thu hút được khách hàng. Điều này sẽ tạo cạnh tranh. Dù vậy, cũng có những lĩnh vực mà khách hàng không có lựa chọn như: dịch vụ sân bay, đường cao tốc, cảng biển… Nếu Nhà nước không kiểm soát chặt chẽ quá trình khai thác của tư nhân thì sẽ mang lại những thiệt hại cho người dân”, ông Ngô Trí Long phân tích.

Để nhấn mạnh thêm quan điểm “Tư nhân làm sẽ tốt hơn Nhà nước”, ông Ngô Trí Long khẳng định, vì “Nhà nước có người chống lưng, cơ cấu bộ máy thể chế ràng buộc nên sẽ không trách nhiệm hết mình, làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Một khi cơ chế quan liêu vẫn còn thì có những dịch vụ Nhà nước làm không mang lại lợi ích cho người dân bằng tư nhân. Vì thế, học thuyết của Chủ nghĩa Marx-Lenin nói rằng, Nhà nước sẽ không làm những gì mà tư nhân có thể làm được. Nhà nước chỉ nên phục vụ công ích, xã hội còn những lĩnh vực cạnh tranh thì không nên làm".

Chia sẻ quan điểm về vấn đề này, TS. Trần Vinh Dự cho rằng, để đảm bảo các yếu tố: bán được giá cao, đảm bảo tư nhân mua rồi thì khai thác tốt hơn… phải mất nhiều năm nữa mới đạt được. Tuy nhiên, vẫn cần phải thí điểm một vài dự án trước. Và sau một vài năm, Nhà nước, nhà đầu tư và công luận sẽ có các đánh giá. “Câu chuyện thất bại trong tư nhân hóa hoặc thất bại trong kiểm soát từng xảy ra ở nhiều quốc gia, nhưng đó không phải là lý do để bàn lùi. Các thất bại nhiều khi là cần thiết để rút kinh nghiệm cho việc triển khai đại trà sau này”, TS Trần Vinh Dự nhấn mạnh.

K.An

Nên làm, nhưng cần thận trọng

Theo TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương, việc các tập đoàn tư nhân đầu tư ra ngoài lĩnh vực truyền thống, trong đó có những lĩnh vực cơ sở hạ tầng như sân bay, cảng biển… là nên làm, nhưng cần thận trọng.

Nhìn nhận về việc gần đây nhiều tập đoàn tư nhân công bố dự định mở rộng đầu tư, không chỉ vào những lĩnh vực rất khác với ngành nghề kinh doanh truyền thống, mà còn mua lại một số cơ sở hạ tầng đặc biệt, lâu nay vẫn thuộc  sự quản lý độc quyền của Nhà nước, ông Cung cho rằng: Đừng hiểu “mua sân bay” là mua đứt bán đoạn rồi muốn làm gì thì làm. Chẳng hạn như sân bay Nội Bài sau khi được Nhà nước nhượng quyền kinh doanh cho một đơn vị nào đó thì vẫn sẽ là sân bay, phục vụ giao thông hàng không chứ không thể biến thành một công trình khác hẳn. Theo tôi, vấn đề ở chỗ là phải có hợp đồng nhượng quyền thật là chi tiết, rồi thông qua đấu thầu để tìm ra đối tác tốt nhất để vận hành. Cách nhượng quyền thế nào rất quan trọng, từ việc ai có thẩm quyền quyết định nhượng quyền, khung pháp lý thế nào? Quyết định dựa trên những cơ sở nào? Còn chủ trương thì tôi ủng hộ, đây cũng là cách hợp lý để Nhà nước thu hồi vốn làm việc khác. Các nước cũng vậy, họ có thể bỏ ngân sách ra xây nhà máy, kể cả nhà máy thép, nhà máy hóa chất, xong rồi cho doanh nghiệp tư nhân tiếp quản, sử dụng tài sản.

Nói cách khác, tư nhân đầu tư là tốt, thậm chí họ có thể giúp vận hành công trình hiệu quả hơn hiện nay nhiều, nhưng với các công trình hạ tầng đặc biệt, trong một số trường hợp là cơ hội kinh doanh duy nhất, là “có một không hai” - vì mỗi địa phương hiện nay chỉ có một sân bay - thì phải đảm bảo khả năng tiếp cận được cơ sở hạ tầng đó cho tất cả mọi người và lường trước những rủi ro kinh tế vĩ mô.

Khác với những dự án đầu tư khác, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng phải có tính kết nối cao, cộng đồng phải tiếp cận được. Thứ nữa là nguồn vốn ở đâu, điều này có quan hệ hữu cơ với hiệu quả của dự án. Nếu vốn vay ngân hàng hay vốn do ngân hàng của doanh nghiệp huy động chiếm tỷ lệ quá lớn thì phải thận trọng, vì cũng không phải không có trường hợp tập đoàn, tổng công ty huy động vốn đầu tư vào những dự án kém hiệu quả chỉ để khuếch trương thanh thế hoặc vì mục đích nào đó. Trong trường hợp các dự án hạ tầng quy mô lớn mà hiệu quả kém thì tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội là rất đáng kể. Cá nhân tôi cho rằng, việc nhượng quyền kinh doanh cho tư nhân hoặc tư nhân hóa sân bay, cảng biển là nên làm, nhưng nên thận trọng, ngoài việc xem xét cẩn thận như đã nói thì nên làm thí điểm trước khi mở rộng.

BỘ TRƯỞNG BỘ GTVT ĐINH LA THĂNG:

Trong kinh doanh, chuyện lợi dụng lợi thế “sân nhà” để vun vén, thiên vị cho bản thân là điều có thể xảy ra. Nhưng với hệ thống luật pháp hiện hành và cơ chế giám sát chặt chẽ mà chúng ta đang và sẽ áp dụng, hoàn toàn có thể loại trừ được hiện tượng đó. Cụ thể, ngay trong những nguyên tắc thỏa thuận nhượng quyền vận hành khai thác các sân bay đã có sự đề phòng rất cao hiện tượng DN được quyền khai thác chèn ép các DN thuê lại. Đó là tất cả vai trò quản lý (quản lý giá dịch vụ, quản lý bay, cấp phép bay...) đều do Nhà nước đảm nhiệm, không chuyển giao cho tư nhân. Nhà đầu tư có trách nhiệm đảm bảo hoạt động vận hành, khai thác, bảo trì kết cấu hạ tầng một cách liên tục, an toàn. Nhà nước, với vai trò quản lý và là trọng tài, sẽ đảm bảo tất cả các tổ chức, cá nhân được tiếp cận, cung cấp dịch vụ một cách công bằng, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh với giá cả hợp lý. Tất cả các nguyên tắc này sẽ được cụ thể hóa thành các quy định trong hợp đồng nhượng quyền

LUẬT SƯ TRẦN HỮU HUỲNH, CHỦ TỊCH TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ VIỆT NAM:

Thực chất việc giao quyền khai thác sân bay, cảng biển, đường cao tốc… cho tư nhân là quá trình cổ phần hóa. Nếu Nhà nước khai thác không hiệu quả, hoặc phải rút bớt thì nên giao lại cho tư nhân. Về pháp lý, luật Cạnh tranh đã có một chương về chống độc quyền nên độc quyền nhà nước hay độc quyền tư nhân đều có công cụ pháp luật chi phối. Vấn đề quan trọng là khi chuyển giao quyền khai thác sân bay về cho tư nhân, việc vận hành cơ chế luật được đảm bảo để không xảy ra độc quyền hay lạm dụng vị trí thống lĩnh.

ÔNG LÊ MẠNH HÙNG, TỔNG GIÁM ĐỐC TỔNG CÔNG TY CẢNG HÀNG KHÔNG VIỆT NAM (ACV):

Kết cấu hạ tầng hàng không và chất lượng dịch vụ vận tải hàng không hiện nay rất khó đáp ứng được nhu cầu vận tải hàng không - được dự báo tăng nhanh trong thời gian tới. Để giải quyết vấn đề tương tự, các nước trên thế giới đã tiến hành tư nhân hóa các hoạt động kinh doanh hàng không, mà cụ thể là cho phép các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào thị trường hàng không nói chung và lĩnh vực kinh doanh cảng hàng không nói riêng. Việc huy động vốn xã hội hóa để đầu tư kết cấu hạ tầng hàng không nói chung mà cụ thể là hình thức nhượng quyền khai thác, bán cảng hàng không, sân bay nói riêng, là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn, phù hợp với xu thế của thế giới.

ÔNG TRƯƠNG VĂN PHƯỚC, PHÓ CHỦ TỊCH ỦY BAN GIÁM SÁT TÀI CHÍNH QUỐC GIA:

Nhượng quyền khai thác sẽ tạo nên một cơ chế truyền dẫn hiệu quả để khơi thông nguồn vốn tín dụng trong giai đoạn hiện nay, và trở thành một kênh dẫn vốn từ các ngân hàng đến nhà đầu tư. Trong bối cảnh hiện nay, giải pháp đầu tư theo hình thức đối tác công-tư, trong đó có giải pháp nhượng quyền khai thác thương mại tài sản nhà nước là một giải pháp quan trọng để bù đắp cho nguồn vốn đầu tư có nguy cơ thiếu hụt, giảm bớt áp lực ngân sách, đồng thời có thể đảm bảo cho việc phát triển hệ thống hạ tầng phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

Xem thêm

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: