Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026 - thời khắc mở ra một chặng đường phát triển mới của đất nước, phóng viên Báo Nhà báo và Công luận đã có cuộc trò chuyện với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn.
Trong không khí đầu năm nhiều kỳ vọng, Bộ trưởng đã chia sẻ về những dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ vừa qua, những đột phá thể chế quan trọng và tầm nhìn chiến lược để đưa giáo dục bước vào một nhịp tăng tốc mới trong giai đoạn tới.
+ Thưa Bộ trưởng, nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII, ông đánh giá đâu là những dấu ấn nổi bật của ngành giáo dục?
- Nhiệm kỳ vừa qua là một giai đoạn đặc biệt. Chúng ta vừa phải vượt qua đại dịch COVID-19, vừa tiếp tục triển khai đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo Nghị quyết 29-NQ/TW. Có thể nói, toàn ngành đã thực hiện thành công “mục tiêu kép”: Bảo đảm an toàn trường học và duy trì, phục hồi hoạt động giáo dục.
Ở giáo dục phổ thông, chúng ta hoàn thành trọn vẹn một chu trình đổi mới với Chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018 từ chương trình, sách giáo khoa đến kiểm tra, đánh giá. Đây là cuộc cải cách lớn, tác động sâu rộng và bước đầu đạt được những mục tiêu đề ra.
Ở giáo dục đại học và nghề nghiệp, tự chủ đại học được đẩy mạnh; quy mô đào tạo STEM tăng nhanh; nhiều trường xuất hiện trong các bảng xếp hạng quốc tế. Giáo dục nghề nghiệp gắn chặt hơn với thị trường lao động. Đặc biệt, chuyển đổi số trở thành một điểm sáng với cơ sở dữ liệu toàn ngành, học bạ số, văn bằng số và việc ứng dụng AI trong quản lý, giảng dạy.
Một dấu mốc rất quan trọng là việc ban hành Luật Nhà giáo – lần đầu tiên chúng ta có một đạo luật riêng cho đội ngũ nhà giáo, khẳng định vai trò then chốt của lực lượng này đối với chất lượng giáo dục.
+ Năm 2025 được xem là năm bản lề về thể chế, Bộ trưởng có thể chia sẻ rõ hơn?
- Năm 2025, Quốc hội đã thông qua 4 luật và 4 nghị quyết liên quan trực tiếp đến giáo dục. Đây là khối lượng văn bản lớn nhất từ trước đến nay trong một năm, tạo nên nền tảng pháp lý mới cho toàn hệ thống.
Từ ngày 1/1/2026, giáo dục Việt Nam sẽ vận hành trên một khuôn khổ thể chế đồng bộ, liên thông giữa giáo dục phổ thông, đại học và nghề nghiệp. Cùng với đó là các nghị quyết về miễn, hỗ trợ học phí; phổ cập mầm non; cơ chế đặc thù phát triển giáo dục; và Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa giáo dục giai đoạn 2026–2035.
Có thể nói, chúng ta đã tháo gỡ được nhiều điểm nghẽn tồn tại lâu nay và mở ra không gian phát triển mới.
+ Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị được coi là “đột phá chiến lược”. Theo Bộ trưởng, tinh thần cốt lõi của nghị quyết này là gì?
- Nghị quyết 71-NQ/TW xác định giáo dục không chỉ là quốc sách hàng đầu mà là nhân tố quyết định tương lai dân tộc. Tinh thần của nghị quyết là đổi mới tư duy phát triển giáo dục: Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm và dẫn dắt; đồng thời huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội và hợp tác quốc tế.
Chúng ta không thể đạt tốc độ phát triển như kỳ vọng nếu chỉ làm theo cách cũ. Muốn có nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, muốn thực hiện hai mục tiêu 100 năm của đất nước, giáo dục phải tăng tốc với những cơ chế đột phá về đầu tư, quản trị và tự chủ.
+ Vậy năm 2026 sẽ mang ý nghĩa như thế nào đối với ngành giáo dục, thưa Bộ trưởng?
- Có thể nói, 2026 là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm mới và cũng là năm các luật, nghị quyết bắt đầu có hiệu lực. Ngay từ bây giờ, chúng tôi đang khẩn trương hoàn thiện các nghị định, văn bản hướng dẫn để khi bước sang ngày 1/1/2026 có thể triển khai ngay trong thực tiễn.
Song song với hoàn thiện thể chế là việc sắp xếp lại hệ thống cơ sở giáo dục phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; tổ chức lại mạng lưới đại học, cao đẳng; triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia và đề án đầu tư lớn.
Tôi cho rằng 2026 không chỉ là năm khởi động, mà là năm mở đầu cho một nhịp tăng tốc mới – không chỉ cho nhiệm kỳ 5 năm tới mà cho cả chặng đường phát triển dài hạn của giáo dục Việt Nam.
+ Trong bối cảnh nhiều vận hội mới, ngành giáo dục đang đối diện những thách thức nào?
- Thuận lợi lớn nhất hiện nay là giáo dục được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước. Tuy nhiên, thách thức cũng không nhỏ.
Thứ nhất là yêu cầu phát triển rất cao và rất nhanh, trong khi thói quen cũ, tư duy cũ vẫn còn sức ì nhất định. Đổi mới không chỉ là thay văn bản mà là thay đổi cách nghĩ, cách làm.
Thứ hai là sự chênh lệch giữa các vùng miền. Bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục chất lượng khi xuất phát điểm không đồng đều là bài toán lớn.
Và cuối cùng là thách thức từ chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, hội nhập quốc tế. Những thay đổi này buộc chúng ta phải điều chỉnh cách dạy, cách học và cả cách đánh giá.
+ Thời hạn, định hướng sắp xếp các đơn vị sự nghiệp, trường học được xác định lộ trình ra sao thưa Bộ trưởng?
- Đây là mục tiêu đặt ra tại Quyết định 282/QĐ-TTg, ngày 12.2.2026 ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030 do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký.
Theo đó, giai đoạn 2026 - 2027, hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính, bảo đảm cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, ổn định, khả thi cho bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương hoạt động thông suốt, liên tục, hiệu lực và hiệu quả.
Hoàn thiện thể chế, chính sách về đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tự chủ tài chính đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm kịp thời, đúng chủ trương của Đảng.
Hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị sự nghiệp, trường học, cơ sở y tế, doanh nghiệp nhà nước,...
Việc sắp xếp các cơ sở giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa lớn trong việc thực hiện các nghị quyết của Trung ương.
Do đó, Bộ đề nghị các địa phương nắm chắc tinh thần chỉ đạo, hiểu đúng, làm đúng, triển khai thận trọng nhưng quyết liệt, bảo đảm hiệu quả, ổn định và phát triển bền vững giáo dục trên địa bàn.
Bộ cũng đặt ra yêu cầu xuyên suốt với các địa phương: Không tổ chức sắp xếp một cách máy móc. Mỗi địa phương có đặc thù khác nhau về điều kiện kinh tế – xã hội, mật độ dân cư, địa hình, giao thông đi lại. Việc sắp xếp phải căn cứ vào thực tiễn cụ thể, bảo đảm phù hợp và hiệu quả.
Việc sắp xếp không được làm ảnh hưởng đến hoạt động dạy và học đang diễn ra; không để học sinh phải nghỉ học kéo dài, không làm gián đoạn chương trình, kế hoạch năm học.
Mục tiêu của sắp xếp là tổ chức dạy học và quản lý tốt hơn, thuận lợi hơn, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục. Nếu việc sắp xếp khiến quy mô quá nhỏ, kém hiệu quả hoặc làm giảm chất lượng thì kiên quyết không thực hiện.
Chúng tôi cũng yêu cầu các địa phương không đặt ra các chỉ tiêu mang tính gượng ép, không chạy theo thành tích, không áp đặt máy móc các con số như mỗi xã chỉ còn một trường hay giảm theo tỉ lệ cứng nhắc. Có địa phương cần giảm, nhưng cũng có địa phương phải giữ nguyên hoặc tăng thêm, nhất là ở khu vực đô thị, khu công nghiệp, nơi dân cư tập trung đông và trường lớp đang quá tải.
Đặc biệt, không lấy tiêu chí tự chủ tài chính làm căn cứ sắp xếp cơ sở giáo dục. Giáo dục phải được đặt trên nguyên tắc chuyên môn và chất lượng. Không sử dụng các tiêu chí “phi giáo dục” để quyết định vấn đề giáo dục, đúng với tinh thần các Nghị quyết của Trung ương.
Đối với các cơ sở giáo dục trong cùng một xã, đặc biệt là các trường, điểm trường gần nhau, quy mô quá nhỏ hoặc siêu nhỏ, cần sắp xếp lại. Trường hợp không bảo đảm an toàn, cơ sở vật chất, chất lượng nuôi dạy thì kiên quyết cho dừng hoạt động hoặc giải thể, nhất là các nhóm trẻ, trường mầm non tư thục không đủ điều kiện.
Không vì giảm đầu mối mà nhập mầm non với tiểu học; không sáp nhập trường mầm non vào trường phổ thông; không nhập tiểu học, THCS, THPT thành một, trừ các mô hình liên cấp tư thục đã hình thành ổn định.
Đối với giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp, không chuyển đổi đồng loạt, máy móc sang mô hình trung học nghề. Việc chuyển đổi phải chờ hướng dẫn của Bộ, có lộ trình, chương trình, đội ngũ và điều kiện bảo đảm.
Đối với các trường cao đẳng, có thể xem xét sáp nhập các trường đơn ngành thành đa ngành, nhưng tránh quy mô quá lớn, vượt quá năng lực quản trị.
+ Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!