Chỉ thị 04-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới đã đặt mục tiêu đến năm 2030 chúng ta xây dựng hệ thống xuất bản tinh gọn, mạnh, chất lượng, hiện đại hóa. Đặc biệt, đầu tư, xây dựng và hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông chủ lực quốc gia, đa nền tảng, đa sản phẩm; chú trọng thực hiện các nhiệm vụ chính trị tư tưởng, văn hóa giải trí, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo.
Nhiều chuyên gia cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi số đang định hình lại toàn bộ chuỗi giá trị tri thức, việc Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW có ý nghĩa kịp thời và mang tầm chiến lược.
“Tái định vị" ngành xuất bản trong bối cảnh mới
Theo bà Nguyễn Thị Mỹ Linh, Phó Vụ trưởng Vụ Báo chí - Xuất bản, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chỉ thị 04 đặt mục tiêu “xây dựng hệ thống xuất bản tinh gọn, mạnh, chất lượng, hiện đại hóa” - những từ khóa này đã bao hàm toàn bộ quy trình, vai trò, vị thế của xuất bản.
Trong đó, “tinh gọn, mạnh” là để hướng đến chất lượng, “chuyên nghiệp”, “hiện đại hóa” chính là câu chuyện đổi mới quy trình, công nghệ và tư duy quản lý, chuyển đổi số. Muốn vậy phải có những mô hình mới đổi mới, sáng tạo, vận hành phù hợp ở trong nước và quốc tế để có thể hợp tác đối đẳng như trao đổi tác quyền, học thuật, văn hóa và các giá trị khác; hình thành các tập đoàn xuất bản, truyền thông mạnh, đa nền tảng, đa sản phẩm để có thể “đi được bằng nhiều chân”.
Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh nhấn mạnh rằng, hệ thống xuất bản thực hiện đủ những từ khóa này sẽ trở thành một ngành xuất bản tiệm cận với các nền xuất bản quốc tế.
Còn theo ông Nguyễn Nguyên, Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành, khái niệm “tập đoàn xuất bản” không đơn thuần chỉ là mở rộng quy mô tổ chức mà cần thiết kế lại trục vận hành của ngành. Một “tập đoàn” đúng nghĩa phải làm chủ từ sáng tạo nội dung, biên tập, sản xuất, in, phát hành đến dữ liệu, nền tảng số và thị trường.
Quan trọng hơn, chủ thể phải kiểm soát và khai thác giá trị nội dung trong môi trường số. Nếu không, giá trị lớn nhất của ngành - đó là dữ liệu và nền tảng - sẽ rơi vào tay các doanh nghiệp công nghệ hoặc nền tảng xuyên biên giới. Khi đó, xuất bản trong nước chỉ còn vai trò trung gian. Như vậy, quan điểm mới của Đảng và Nhà nước ta chính là bước chuyển từ “nâng cao chất lượng” sang làm chủ chuỗi giá trị.
Đồng quan điểm, TS. Trần Chí Đạt, Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Khoa học - Công nghệ - Truyền thông cũng cho rằng, trong bối cảnh mới, các nhà xuất bản cần chuyển từ tư duy làm sách đơn lẻ sang tư duy phát triển hệ sinh thái nội dung đa nền tảng, đa sản phẩm, trong đó trọng tâm là xây dựng và vận hành các nền tảng xuất bản, phát hành số - đây là yêu cầu mang tính "tái định vị" toàn ngành trong bối cảnh mới.
Khi đó, các nhà xuất bản có cơ hội mở rộng không gian phát triển, từ mô hình truyền thống sang môi trường số, tiếp cận độc giả nhanh hơn, rộng hơn và không bị giới hạn bởi địa lý.
Hình thành 3-4 mô hình tập đoàn xuất bản - truyền thông
Ông Nguyễn Cảnh Bình, Chủ tịch HĐQT Alpha Books đánh giá, Chỉ thị 04 đã đặt xuất bản vào một vị trí cực kỳ quan trọng khi vừa là công cụ tư tưởng, vừa là ngành kinh tế - công nghệ, đồng thời là phương tiện để tăng cường sức mạnh mềm quốc gia.
Tuy nhiên, ông Bình nhấn mạnh, nếu chúng ta chỉ dừng ở việc quán triệt tinh thần chung mà không chuyển hóa thành các cơ chế, bài toán cụ thể thì rất dễ rơi vào tình trạng chủ trương đúng nhưng triển khai phân tán, có quyết tâm chính trị nhưng thiếu công cụ thực hiện thực chất.
Theo ông Bình, ngành xuất bản có quy mô kinh tế không quá lớn nhưng lại là "vùng lõi" tạo dựng nền tảng tri thức. Để các đơn vị tư nhân dám mạnh dạn đầu tư, Nhà nước cần thiết kế một hệ thống ưu đãi thuế vượt trội.
Từ kinh nghiệm thực tế, ông Bình đề xuất áp dụng mức thuế suất 0% hoặc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức ưu đãi cho các dòng sách học thuật, nghiên cứu. Việc thiết lập một "Quỹ hỗ trợ tác phẩm lớn quốc gia" với cơ chế tài trợ nhiều năm sẽ giúp nuôi dưỡng các công trình tri thức mang tầm vóc lịch sử.
Ông Bình cũng kiến nghị xây dựng một chương trình quốc gia dài hạn nhằm xuất khẩu 1.000 đầu sách Việt Nam ra thế giới trong 5 đến 10 năm tới, nhằm tạo dựng một ngành công nghiệp văn hóa mạnh, gia tăng sức mạnh mềm trên trường quốc tế.
Bên cạnh đó, hệ thống thiết chế văn hóa cũng cần được quan tâm đầu tư. Nhà nước nên cho phép các doanh nghiệp tư nhân có năng lực tham gia đấu thầu vận hành các thư viện công. Hệ thống hàng nghìn thư viện và điểm đọc trên cả nước có thể áp dụng mô hình hợp tác công - tư (PPP) để đưa vào vận hành hiệu quả.
Ngoài ra, ông Bình cũng đề xuất thành lập một Liên minh phát triển văn hóa đọc và xuất bản Việt Nam nhằm khắc phục tình trạng hoạt động phân tán của các đơn vị làm sách. Liên minh này sẽ tập hợp sức mạnh của các nhà xuất bản, công ty sách và công ty công nghệ để cùng nhau thực hiện các dự án công nghiệp văn hóa quy mô lớn như tổ chức hội sách, bảo vệ bản quyền số và đào tạo nhân sự chất lượng cao.
Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh cho rằng, dư địa phát triển của ngành xuất bản còn rất lớn khi Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Từ đó, chúng ta có thể hình thành các quỹ dịch thuật, quỹ hỗ trợ xuất bản trong tổng 2% ngân sách đó để đưa xuất bản tham gia sâu hơn vào công nghiệp văn hóa và giao lưu văn hóa.
Nêu dẫn chứng ở châu Á đã có nhiều mô hình tập đoàn hoạt động ở cả 3 khâu: xuất bản, in, phát hành, tạo nên chuỗi hoạt động khép kín, bà Nguyễn Thị Mỹ Linh gợi ý, trước mắt, có thể phát triển khoảng 3-4 mô hình tập đoàn xuất bản - truyền thông đa nền tảng, đa sản phẩm chủ lực. Mô hình tập đoàn/tổ hợp này sẽ hướng đến việc có các đơn vị bên trong sản xuất đa loại hình, đa dạng sản phẩm xuất bản, để đưa sản phẩm lên đa nền tảng.
Ông Nguyễn Nguyên cũng lạc quan cho rằng, việc xây dựng những tập đoàn trong lĩnh vực xuất bản tại Việt Nam không phải tương lai xa, bởi lẽ mục tiêu này đã trở thành một động lực mới, trở thành yêu cầu bắt buộc của ngành xuất bản.
“Một tập đoàn ra đời không chỉ giải quyết bài toán kinh tế để ngành xuất bản vươn lên mà còn khẳng định chủ quyền văn hóa Việt Nam. Khi khoa học công nghệ, mạng xã hội phát triển bùng nổ, biên giới văn hóa ngày càng xóa nhòa, một thương hiệu Việt, một tập đoàn Việt có thể lan tỏa và bảo vệ bản sắc văn hóa Việt trước thế giới là vô cùng cần thiết”, ông Nguyên đánh giá.