Doanh thu giống nhau nhưng hiệu quả kinh doanh rất khác
Một trong những nội dung được các đại biểu quan tâm là cách dự thảo Nghị quyết xác định đối tượng doanh nghiệp được giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp dựa trên tiêu chí tổng doanh thu năm không quá 10 tỷ đồng.
Đại biểu Nguyễn Duy Thanh (Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) ghi nhận sự cần thiết của chính sách giảm thuế trong hai năm 2026 và 2027. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần xem xét kỹ cách lựa chọn tiêu chí thụ hưởng, bởi doanh thu và số thuế thực tế được giảm không phải lúc nào cũng phản ánh cùng một mức độ khó khăn của doanh nghiệp.
Theo đại biểu, cùng có doanh thu 10 tỷ đồng nhưng các doanh nghiệp có thể ở những trạng thái rất khác nhau: có doanh nghiệp đang phát triển, có doanh nghiệp lợi nhuận thấp, có doanh nghiệp thu hẹp hoạt động hoặc thua lỗ. Do đó, mức thuế được giảm cũng sẽ khác nhau.
“Doanh nghiệp lợi nhuận thấp thì có số thuế được giảm ít; doanh nghiệp đang thua lỗ hay không phát sinh số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thì không có khoản thuế được giảm”, đại biểu phân tích.
Dẫn số liệu do VCCI công bố tháng 7/2026, theo đó tỷ suất lợi nhuận bình quân của khu vực doanh nghiệp năm 2024 chỉ khoảng 2,2% và gần một nửa doanh nghiệp chưa có lãi, đại biểu Nguyễn Duy Thanh đặt vấn đề về hiệu quả phân bổ nguồn lực của chính sách.
Theo đó, có thể xuất hiện nghịch lý khi những doanh nghiệp hoạt động khó khăn, lợi nhuận mỏng lại nhận được mức hỗ trợ thuế thấp, còn doanh nghiệp thua lỗ thì không phát sinh số thuế để được giảm.
Từ thực tế này, đại biểu đề nghị làm rõ trong tổng nguồn lực dự kiến giảm 4.750 tỷ đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp trong hai năm, có bao nhiêu doanh nghiệp thực tế phát sinh thuế để được hưởng chính sách, mức giảm bình quân là bao nhiêu và nguồn lực chủ yếu tập trung vào nhóm doanh nghiệp nào.
Cần tính đến đặc thù từng ngành, tránh “điểm gãy” ở ngưỡng 10 tỷ đồng
Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) cũng lưu ý sự khác biệt lớn giữa các ngành nghề về doanh thu, chi phí và biên lợi nhuận.
Theo đại biểu, một doanh nghiệp thương mại, phân phối có thể đạt doanh thu 10 tỷ đồng nhưng tỷ suất lợi nhuận rất thấp, trong khi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ có cùng mức doanh thu lại có khả năng sinh lời cao hơn đáng kể. Vì vậy, việc sử dụng một ngưỡng doanh thu chung để xác định đối tượng được hưởng ưu đãi cần được đánh giá kỹ về tác động và tính công bằng.
Đáng chú ý, một số đại biểu băn khoăn về “điểm gãy” chính sách khi doanh nghiệp vừa vượt qua ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng.
Theo quy định được các đại biểu dẫn chiếu, doanh nghiệp có doanh thu từ 3 tỷ đến 50 tỷ đồng chịu thuế suất 17%. Nếu doanh thu không quá 10 tỷ đồng và thuộc diện được giảm 30% số thuế phải nộp, mức thuế suất thực tế tương ứng là 11,9%. Như vậy, trường hợp doanh thu chỉ tăng từ 9,9 tỷ đồng lên 10,1 tỷ đồng, doanh nghiệp có thể mất toàn bộ mức giảm và chuyển sang chịu thuế suất 17%.
Đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) cho rằng chênh lệch quy mô kinh doanh giữa doanh nghiệp có doanh thu 9,9 tỷ đồng và 10,1 tỷ đồng là không lớn, nhưng chênh lệch về chính sách thuế lại đáng kể.
Theo đại biểu, điều này có thể tạo ra tâm lý không muốn mở rộng quy mô để tránh vượt ngưỡng ưu đãi. Vì vậy, cần nghiên cứu cơ chế chuyển tiếp đối với trường hợp doanh thu vượt không đáng kể so với mức 10 tỷ đồng, theo hướng mức ưu đãi giảm dần.
Mục tiêu, theo đại biểu, là bảo đảm khi doanh nghiệp tăng doanh thu thì nghĩa vụ thuế tăng tương ứng, nhưng không tạo ra sự thay đổi quá đột ngột chỉ vì doanh thu vượt qua một ngưỡng nhất định.
Đồng tình với hướng này, đại biểu Nguyễn Thành Trung (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng) kiến nghị Chính phủ nghiên cứu phương án thiết kế ưu đãi theo bậc doanh thu, hoặc tiếp tục đánh giá tác động để xem xét mở rộng đối tượng thụ hưởng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ có doanh thu từ 10 tỷ đồng trở lên.