Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, GS.TSKH.BS. Dương Quý Sỹ, Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục & PTNL Việt Nam, Chủ tịch Hội Y học Giấc ngủ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Hô hấp Việt Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng, Trưởng Bộ môn Y học giấc ngủ, Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định:
'Khi có chiến lược quốc gia mạnh mẽ và đột phá, có đầu tư cho khoa học công nghệ chuyên ngành công nghiệp dược liệu, có hệ sinh thái nghiên cứu - doanh nghiệp - thị trường dược liệu vững mạnh và có chính sách bền vững, tạo sự đột phá đưa các sản phẩm dược liệu vào chăm sóc sức khỏe nhân dân, chuỗi giá trị dược liệu toàn cầu, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng những thương hiệu thảo dược quốc gia mang tầm khu vực và quốc tế trong những thập niên tới".
Tài nguyên phong phú nhưng sản phẩm còn nghèo nàn
+Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đã biến y học cổ truyền và dược liệu thành ngành công nghiệp mang lại doanh thu hàng chục đến hàng trăm tỷ USD mỗi năm. Việt Nam hiện nay đang đứng ở đâu trong cuộc đua kinh tế thảo dược toàn cầu, thưa ông?
- Đất nước ta có một nền y học cổ truyền với truyền thống lâu đời, được bảo tồn và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử, gắn liền với các Danh y nổi tiếng như Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với những câu nói nổi tiếng như “Nam dược trị Nam nhân” (Tuệ Tĩnh). Việt Nam hiện đang là một quốc gia có mạng lưới y học cổ truyền (YHCT) phát triển đồng bộ và rộng khắp từ trung ương đến các tỉnh thành và y tế tuyến cơ sở, đáp ứng cơ bản nhu cầu chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho nhân dân về YHCT, ứng dụng tốt các bài thuốc dược liệu truyền thống, kết hợp với y học hiện đại.
Có thể nói trong hệ sinh thái công nghiệp thảo dược toàn cầu, Việt Nam hiện nay đang là một quốc gia giàu tiềm năng phát triển về công nghiệp dược liệu nhưng chưa trở thành một nước có nền kinh tế thảo dược phát triển. Dù với nguồn dược liệu rất đa dạng và phong phú trải dài khắp cả nước, nhưng giá trị kinh tế thảo dược tạo ra vẫn còn khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Nguồn nguyên liệu dược từ thảo dược chủ yếu được trồng và khai thác thủ công, chưa có những khu nghiên cứu, canh tác dược liệu công nghiệp hóa thông minh và hiện đại, phù hợp với ngành công nghiệp sản xuất - chế biến và xuất khẩu dược liệu tiên tiến, tính cạnh tranh cao, mang thương hiệu quốc gia, hình thành chuỗi cung ứng cho khu vực và quốc tế, đóng góp mạnh mẽ nguồn lực kinh tế tài chính thảo dược và khoa học công nghệ dược quốc gia và toàn cầu.
Việt Nam hiện nay đang là một quốc gia giàu tiềm năng phát triển về công nghiệp dược liệu nhưng chưa trở thành một nước có nền kinh tế thảo dược phát triển
+Việt Nam được xem là quốc gia có nguồn tài nguyên dược liệu rất phong phú, nhưng giá trị xuất khẩu còn rất khiêm tốn và chủ yếu ở dạng nguyên liệu thô. Vậy đâu là nghịch lý lớn nhất của ngành dược liệu Việt Nam hiện nay?
-Có thể nói nghịch lý lớn nhất của ngành dược liệu Việt Nam hiện nay là được thể hiện phù hợp với những đánh giá chung: “Tài nguyên phong phú nhưng sản phẩm còn nghèo nàn”. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học thảo dược cao, với hàng nghìn loài cây thuốc và nhiều dược liệu đặc hữu có giá trị ứng dụng cao trong CSSK như sâm Ngọc Linh, atiso Lâm Đồng (Đà Lạt), quế Trà My, hồi Lạng Sơn, ba kích tím, cà gai leo, đinh lăng…
Tuy nhiên, phần lớn dược liệu vẫn được xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô hoặc sơ chế sử dụng đơn giản, chưa được đầu tư công nghệ chế biến chuyên sâu, tiêu chuẩn hóa giá trị sử dụng quốc tế, chưa có sản phẩm xuất khẩu tham gia vào nền kinh tế dược liệu tỷ đô toàn cầu.
Một nghịch lý khác là mặc dù nhu cầu sử dụng cao các loại thuốc thảo dược trong cải thiện các vấn đề sức khỏe cho người cao tuổi về tim mạch, giấc ngủ, thần kinh, chuyển hóa, bài tiết, xương khớp; kết hợp với xu hướng ngày càng cao của người trẻ thích sử dụng các loại thực phẩm chức năng dược liệu có tác dụng tốt cho sức khỏe và các loại mỹ phẩm từ nguồn thảo dược trong nước và khu vực, nhưng Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn nguyên dược liệu từ nước ngoài. Điều này cho thấy sự mất cân đối trong phát triển nguồn tài nguyên thảo dược tiềm năng quốc gia so với nhu cầu cấp thiết phải xây dựng chuỗi giá trị kinh tế công nghiệp dược liệu .
Bán rẻ tài nguyên, mua lại giá trị gia tăng
+Nhiều ý kiến cho rằng, chúng ta đang "bán rẻ tài nguyên, mua lại giá trị gia tăng". Ông nhìn nhận như thế nào về thực trạng dược liệu Việt Nam xuất thô nhưng các sản phẩm giá trị cao lại được sản xuất ở nước ngoài?
-Nhận định "bán rẻ tài nguyên, mua lại giá trị gia tăng" phản ánh một phần nào thực trạng của ngành dược liệu Việt Nam trong thời gian qua. Thật vậy, trong chuỗi giá trị dược liệu, giá trị kinh tế lớn nhất không nằm ở khâu trồng trọt hay thu hái nguyên liệu, mà nằm ở các công đoạn nghiên cứu hoạt chất, tiêu chuẩn hóa chất lượng, chiết xuất và bào chế, đăng ký sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường. Đây chính là những khâu tạo ra phần lớn lợi nhuận của ngành công nghiệp dược liệu hiện đại.
Trong thời gian qua, ngành dược liệu Việt Nam cũng đã phát triển rất sôi động nhưng vẫn chủ yếu tham gia ở phân khúc đầu vào của chuỗi giá trị thảo dược. Nhiều loại dược liệu được xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô hoặc sơ chế với giá trị không cao; nhưng sau đó đã được các doanh nghiệp dược liệu nước ngoài sử dụng công nghệ hiện đại để chế biến, chiết xuất hoạt chất, sản xuất thuốc YHCT, thực phẩm bảo vệ sức khỏe hoặc mỹ phẩm mang thương hiệu quốc tế và xuất khẩu trở lại vào các thị trường xuất khẩu nguyên liệu thô, các quốc gia có nhu cầu với giá trị tăng lên rất nhiều lần.
Do vậy có thể nói rằng, Việt Nam ta rất giàu tài nguyên dược liệu, giàu tri thức về YHCT được kế thừa và phát triển qua hàng nghìn năm. Tuy nhiên, sự tụt hậu về công nghệ dược liệu, năng lực nghiên cứu phát triển thấp, sản phẩm dược liệu chưa bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng quốc tế và năng lực thương mại hóa sản phẩm còn yếu, khiến Việt Nam chưa có được những sản phẩm thảo dược giá trị cao nhất đóng góp cho nền kinh tế công nghiệp dược liệu và chuỗi giá trị toàn cầu.
Cần xây dựng một Chiến lược Quốc gia về Công nghiệp Dược liệu và Kinh tế Dược liệu Việt Nam giai đoạn 2026 – 2030 và tầm nhìn đến 2045
+Nếu so sánh với Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản, đâu là những mắt xích yếu nhất khiến Việt Nam chưa thể xây dựng được một ngành công nghiệp dược liệu quy mô lớn và có thương hiệu quốc tế, thưa ông?
- Dưới góc nhìn mang tính hệ thống, những điểm yếu lớn nhất của Việt Nam hiện nay trong việc chưa thể xây dựng được thương hiệu một quốc gia có nền công nghiệp dược liệu phát triển không chỉ nằm ở một khâu hay một mắt xích riêng lẻ như vùng nguyên liệu, công nghệ chế biến hay doanh nghiệp dẫn dắt, mà do bởi chúng ta chưa xây dựng được một chiến lược quốc gia đủ mạnh để phát triển công nghiệp dược liệu như một ngành kinh tế y sinh học hiện đại.
Trước hết, ngành công nghiệp dược liệu của Việt Nam chưa có một định hướng phát triển mang tính liên ngành và dài hạn. Dược liệu không chỉ thuộc lĩnh vực YHCT hay nông nghiệp, mà là giao điểm của y học, dược học, công nghệ sinh học, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, thương mại quốc tế và sở hữu trí tuệ. Vì vậy, nếu mỗi bộ, ngành, địa phương phát triển theo một hướng riêng, thiếu điều phối tổng thể, thì rất khó tạo ra một ngành công nghiệp dược liệu quy mô lớn.
Thứ hai, sự liên kết về định hướng quy hoạch và phát triển của công nghiệp dược liệu giữa các vùng trọng điểm còn chưa đủ chặt chẽ. Việt Nam có nhiều vùng dược liệu quý như Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Trường Sơn, Đông Bắc và Lâm Đồng, nhưng các vùng này chưa được tổ chức thành những cụm công nghiệp dược liệu hoàn chỉnh. Một vùng dược liệu hiện đại không chỉ là nơi trồng cây thuốc, mà phải gắn với trung tâm nghiên cứu, cơ sở kiểm nghiệm, nhà máy chiết xuất, doanh nghiệp chế biến sâu, hệ thống hạ tầng và chiến lược thị trường.
Thứ ba, đầu tư cho khoa học công nghệ trong lĩnh vực dược liệu còn hạn chế và chưa tương xứng với tiềm năng quốc gia. Trong khi các nước phát triển đã ứng dụng sinh học phân tử, giải trình tự gen, trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano và sinh tổng hợp hoạt chất để phát triển thuốc từ dược liệu, thì Việt Nam vẫn chủ yếu dừng ở mức nghiên cứu thành phần hóa học, khảo sát tác dụng sinh học hoặc sản xuất sản phẩm ở quy mô nhỏ.
Thứ tư, Việt Nam còn thiếu năng lực làm chủ công nghệ lõi trong nghiên cứu và phát triển dược liệu. Những khâu tạo giá trị cao nhất hiện nay là xác định hoạt chất chính, chuẩn hóa hàm lượng hoạt chất, chiết xuất tinh khiết, bào chế hiện đại, kiểm chứng cơ chế tác dụng ở mức tế bào và phân tử, thử nghiệm tiền lâm sàng, thử nghiệm lâm sàng và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Đây là những khâu quyết định một dược liệu có thể trở thành sản phẩm khoa học công nghệ hay chỉ dừng lại ở nguyên liệu thô.
Thứ năm, canh tác dược liệu sạch, chất lượng cao và có truy xuất nguồn gốc vẫn là điểm nghẽn lớn tại Việt Nam. Một sản phẩm dược liệu muốn đi ra thị trường quốc tế phải có vùng trồng chuẩn hóa, giống ổn định, quy trình canh tác sạch, kiểm soát tồn dư hóa chất, kim loại nặng, vi sinh vật và bảo đảm hàm lượng hoạt chất đồng nhất. Nếu không có nguyên liệu chuẩn, mọi công nghệ chế biến phía sau đều khó tạo ra sản phẩm đạt chuẩn quốc tế.
Thứ sáu, Việt Nam ta chưa đầu tư đủ mạnh để phát triển dược liệu thành các sản phẩm chăm sóc, phục hồi và tái tạo sức khỏe thế hệ mới, phục vụ cho y học cá thể, y học chính xác. Xu hướng y học hiện đại không chỉ điều trị bệnh mà còn hướng đến dự phòng, phục hồi chức năng, chống lão hóa, điều hòa miễn dịch, tái tạo mô, cải thiện chuyển hóa và nâng cao chất lượng sống. Đây là không gian rất lớn để dược liệu Việt Nam tham gia vào phát triển, nhưng cần có nền tảng nghiên cứu về sinh học phân tử, miễn dịch học, tế bào học, y học tái tạo và công nghệ bào chế tiên tiến.
+Theo ông, điều gì đáng lo ngại hơn: Thiếu vùng nguyên liệu chuẩn hoá, thiếu công nghệ chế biến sâu hay thiếu những doanh nghiệp đủ tầm để dẫn dắt ngành dược liệu Việt Nam bước ra thị trường toàn cầu?
-Cả ba yếu tố được đề cập đến như là vùng nguyên liệu chuẩn hóa, công nghệ chế biến sâu và doanh nghiệp dẫn dắt, đều là những điều kiện hết sức quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp dược liệu. Tuy nhiên, nếu nhìn dưới góc độ phát triển quốc gia và xây dựng một nền công nghiệp dược liệu hiện đại, thì đây mới chỉ là những điều kiện cần, nhưng chưa phải là điều kiện đủ.
Điều đáng lo ngại hơn là Việt Nam vẫn chưa thực sự hình thành được một chiến lược quốc gia đủ mạnh, đủ dài hạn và đủ tính đột phá để phát triển công nghiệp dược liệu trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không có quốc gia nào xây dựng thành công ngành công nghiệp dược liệu chỉ bằng nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản đều thành công nhờ có chiến lược quốc gia rõ ràng, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, định hướng phát triển, đầu tư cho khoa học công nghệ và tạo môi trường để doanh nghiệp phát triển.
Thật vậy, nếu không có một chủ trương mang tầm chiến lược quốc gia thì rất khó giải quyết đồng thời các vấn đề về vùng nguyên liệu, công nghệ và doanh nghiệp. Bởi lẽ, vùng nguyên liệu cần quy hoạch liên vùng và liên ngành; công nghệ cần đầu tư dài hạn cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo; doanh nghiệp cần môi trường chính sách ổn định để mạnh dạn đầu tư cho nghiên cứu phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường quốc tế.
Có thể nói, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay của ngành công nghiệp dược liệu Việt Nam chưa phát triển đủ mạnh để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu là sự thiếu đồng bộ giữa chiến lược phát triển kinh tế dược liệu với các chiến lược về khoa học công nghệ, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sinh học, y tế và phát triển nguồn nhân lực công nghiệp dược liệu chất lượng cao. Dược liệu vẫn đang nhìn dược liệu chủ yếu dưới góc độ cây thuốc hoặc sản phẩm YHCT, trong khi thế giới đã nhìn dược liệu như một thành phần quan trọng của nền kinh tế sinh học và công nghệ CSSK thế hệ mới.
Do vậy, điều quan trọng và cấp thiết nhất hiện nay là dựa trên các Nghị quyết trung ương, các Kết luận và định hướng của Bộ Chính trị, cần phải xây dựng một Chiến lược Quốc gia về Công nghiệp Dược liệu và Kinh tế Dược liệu Việt Nam giai đoạn 2026 – 2030 và tầm nhìn đến 2045, với các cơ chế chính sách đủ mạnh để huy động nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp, giới khoa học và các địa phương cùng tham gia đóng góp.
+Nếu không có những thay đổi mang tính đột phá trong chính sách và đầu tư, liệu Việt Nam có nguy cơ tiếp tục đứng ngoài "miếng bánh" hàng trăm tỷ USD của ngành công nghiệp thảo dược thế giới?
- Hiện nay vấn đề này không chỉ là nguy cơ mà là thực tiễn. Nếu không có những thay đổi mang tính đột phá, Việt Nam có thể tiếp tục chỉ đứng ở phần thấp hay khâu đầu tiên của chuỗi giá trị dược liệu toàn cầu, trong khi phần giá trị gia tăng lớn nhất vẫn thuộc về các quốc gia làm chủ công nghệ, thương hiệu, dữ liệu khoa học và thị trường quốc tế. Điều quan trọng nhất là Việt Nam không thiếu tiềm năng: chúng ta có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, có nền YHCT lâu đời, có nhiều vùng sinh thái đặc thù và có thị trường CSSK hơn một trăm triệu dân. Nhưng tiềm năng không thể tự chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế và muốn tham gia vào “miếng bánh” hàng trăm tỷ USD của ngành công nghiệp thảo dược thế giới, Việt Nam phải có những đột phá mạnh mẽ và đồng bộ.
Thứ nhất là đột phá về chính sách: Cần xem công nghiệp dược liệu không chỉ là một lĩnh vực của YHCT, mà là một ngành kinh tế y sinh học, kinh tế xanh và kinh tế chăm sóc sức khỏe. Việt Nam cần một chiến lược quốc gia lớn mạnh, có cơ chế ưu đãi đầu tư, chính sách đất đai, tín dụng, thuế, bảo hộ sở hữu trí tuệ và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.
Thứ hai là đột phá về con người: Ngành dược liệu hiện đại cần nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực dược học, hóa dược, công nghệ sinh học, sinh học phân tử, y học tái tạo, công nghệ nano, trí tuệ nhân tạo, quản trị chất lượng, sở hữu trí tuệ và thương mại quốc tế. Nếu không có đội ngũ chuyên gia đủ tầm, chúng ta khó tạo ra sản phẩm đủ sức cạnh tranh toàn cầu.
Thứ ba là đột phá về khoa học công nghệ: Giá trị cao nhất của dược liệu nằm ở nghiên cứu hoạt chất, cơ chế tác dụng, chiết xuất tinh khiết, bào chế hiện đại, sinh tổng hợp hoạt chất, thử nghiệm tiền lâm sàng, thử nghiệm lâm sàng và chuẩn hóa chất lượng. Việt Nam cần đầu tư mạnh vào các trung tâm công nghệ dược liệu, phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế và các nền tảng nghiên cứu dựa trên sinh học phân tử, AI và công nghệ sinh học.
Thứ tư là đột phá về cây trồng dược liệu: Không thể xây dựng công nghiệp dược liệu bằng vùng trồng nhỏ lẻ, tự phát và chất lượng không đồng nhất. Cần quy hoạch các vùng dược liệu trọng điểm đạt chuẩn quốc tế, có giống chuẩn, canh tác sạch, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát hoạt chất, bảo tồn nguồn gen và phát triển các dược liệu quốc gia như Sâm Ngọc Linh, quế, hồi, atisô, cà gai leo, nghệ và các dược liệu đặc hữu khác.
Thứ năm là đột phá về liên kết xuất khẩu và đầu tư quốc tế: Việt Nam cần chủ động tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu thông qua hợp tác với các tập đoàn dược liệu, công nghệ sinh học, thực phẩm sức khỏe và mỹ phẩm thiên nhiên. Không chỉ xuất khẩu nguyên liệu, chúng ta phải xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh, công nghệ, thương hiệu và các giải pháp chăm sóc sức khỏe có nguồn gốc từ dược liệu Việt Nam.
Thứ sáu là đột phá trong sử dụng dược liệu phục vụ CSSK nhân dân: Dược liệu Việt Nam phải được đưa vào hệ thống CSSK một cách khoa học, an toàn và có kiểm chứng. Các sản phẩm từ dược liệu cần hướng đến dự phòng bệnh tật, phục hồi sức khỏe, hỗ trợ điều trị bệnh mạn tính, nâng cao miễn dịch, chống lão hóa, phục hồi chức năng và cải thiện chất lượng sống. Đây là thị trường rất lớn, đồng thời cũng là sứ mệnh xã hội của ngành dược liệu Việt Nam.
Nếu không có những đột phá mang tính chính sách này thì thị phần của ngành công nghiệp dược liệu Việt Nam sẽ chỉ là “mẫu bánh nhỏ” trong “miếng bánh lớn” của ngành công nghiệp dược liệu toàn cầu
+ Ngược lại, nếu được đầu tư đúng hướng Việt Nam có những lợi thế nào để bứt phá và trở thành một trung tâm sản xuất dược liệu, sản phẩm y học cổ truyền của khu vực trong 10 - 20 năm tới?
-Việt Nam hoàn toàn có cơ hội trở thành một trung tâm dược liệu và nghỉ dưỡng tích hợp chăm sóc YHCT hiện đại của khu vực nếu có chiến lược phát triển đúng đắn và đầu tư đủ mạnh cho khoa học công nghệ dược liệu.
Chúng ta có nhiều lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng đồng thời sở hữu được: Nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, đa dạng sinh học thuộc nhóm cao của thế giới, hệ sinh thái tự nhiên đa dạng trải dài từ miền núi phía Bắc đến vùng cao nguyên phía Nam, nền y học cổ truyền lâu đời và kho tàng tri thức bản địa được tích lũy qua nhiều thế hệ, là quốc gia có các Danh y được UNESCO công nhận (Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác), kế thừa được những tư tưởng quan trọng mang tính chiến lược và tầm nhìn thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng nền y học Việt Nam mang tính đại chúng dựa trên Đông – Tây y phối hợp và đậm đà bản sắc dân tộc.
Bên cạnh đó, Việt Nam đang bước vào giai đoạn đột phá phát triển về khoa học công nghệ, công nghệ sinh học, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, đột phá trong công tác CSSK theo tinh thần các Nghị quyết trung ương. Đây chính là nền tảng quan trọng để chuyển hóa tài nguyên dược liệu thành các sản phẩm có hàm lượng khoa học và giá trị gia tăng cao. Do vậy, lợi thế lớn nhất của Việt Nam không nằm ở số lượng cây thuốc mà nằm ở khả năng kết hợp giữa dược liệu – YHCT – công nghệ sinh học hiện đại. Đây cũng chính là những tiền đề giúp tạo ra xu hướng phát triển của một ngành “công nghiệp CSSK xanh - sạch - thân thiện và tinh hoa” của Việt Nam trong hội nhập toàn cầu trong tương lai.
Nếu có thêm những chính sách đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao, đầu tư mạnh cho nghiên cứu và phát triển, xây dựng vùng dược liệu chuẩn hóa, phát triển doanh nghiệp dẫn dắt và tăng cường hợp tác quốc tế với các tập đoàn công nghiệp dược liệu, Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành một ngành công nghiệp dược liệu hiện đại và tiên tiến, đóng góp có ý nghĩa cho GDP quốc gia vào những năm 2045.
Với những định hướng mang tính chiến lược như trên, trong vòng 10 – 20 năm sắp đến, chắc chắn rằng Việt Nam ta không chỉ sẽ trở thành trung tâm sản xuất dược liệu của khu vực mà còn có khả năng phát triển các sản phẩm CSSK, phục hồi chức năng, nâng cao miễn dịch, chống lão hóa và y học tái tạo mang thương hiệu Việt Nam trong chuỗi giá trị dược liệu theo định hướng YHCT trên toàn cầu.
+Theo ông, đâu là việc cấp bách nhất cần làm ngay lúc này để Việt Nam không chỉ là "kho nguyên liệu" mà có thể xây dựng những thương hiệu thảo dược quốc gia đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế?
-Việc cấp thiết nhất hiện nay không phải là trồng thêm nhiều dược liệu hơn hay gia tăng sản lượng nguyên liệu, mà là phải xây dựng một “Chiến lược Quốc gia về phát triển công nghiệp dược liệu và kinh tế dược liệu Việt Nam” với tầm nhìn dài hạn đến năm 2045 và xa hơn.
Trong bối cảnh thế giới đang chuyển mạnh sang kinh tế sinh học, kinh tế xanh và công nghệ “CSSK thân thiện”, dược liệu không nên chỉ được xem là một sản phẩm nông nghiệp hay một lĩnh vực của YHCT, mà phải được xác định là một ngành công nghiệp chiến lược có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, góp phần nâng cao sức khỏe nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Để thực hiện mục tiêu này, chúng ta cần phải triển khai đồng thời và đồng bộ một số định hướng lớn mang tầm quốc gia.
Trước hết là xây dựng “Chiến lược Quốc gia về quy hoạch và phát triển vùng dược liệu”. Cần xác định rõ các vùng sinh thái trọng điểm như Tây Bắc, Tây Nguyên, Trường Sơn, Nam Trung Bộ và các vùng cao nguyên để phát triển những dược liệu có lợi thế cạnh tranh. Việc quy hoạch phải gắn với bảo tồn nguồn gen, chuẩn hóa giống, canh tác sạch, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững theo các tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ hai là xây dựng “Chiến lược Quốc gia về công nghiệp dược liệu và công nghệ dược liệu”. Trọng tâm không còn là xuất khẩu nguyên liệu thô mà là đầu tư vào khoa học công nghệ, công nghệ sinh học, sinh học phân tử, công nghệ chiết xuất hoạt chất, công nghệ sinh tổng hợp, công nghệ nano và các nền tảng đổi mới sáng tạo để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao mang thương hiệu Việt Nam.
Thứ ba là xây dựng “Chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khỏe dựa trên nguyên lý y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại”. Đây là xu hướng mà nhiều quốc gia phát triển đang hướng tới. Các sản phẩm dược liệu có bằng chứng khoa học cần được nghiên cứu, đánh giá và từng bước đưa vào hệ thống CSSK quốc gia, đặc biệt trong dự phòng bệnh tật, phục hồi chức năng, nâng cao miễn dịch, chống lão hóa, CSSK người cao tuổi và quản lý bệnh mạn tính.
Thứ tư là chủ động thành lập các “Viện Nghiên cứu Quốc gia về Dược liệu, Công nghệ Y sinh và Y học Cổ truyền hiện đại”. Các viện này cần đóng vai trò đầu tàu trong nghiên cứu hoạt chất, sinh học phân tử, dược lý học, thử nghiệm lâm sàng, công nghệ bào chế, y học tái tạo và phát triển các sản phẩm CSSK thế hệ mới từ nguồn dược liệu Việt Nam; gắn kết với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự tham gia của các trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện, doanh nghiệp công nghệ sinh học và các địa phương có thế mạnh về dược liệu.
Sau cùng là, trong bối cảnh già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng, “Dược liệu và YHCT cần được tích hợp vào các chương trình chăm sóc người cao tuổi, người yếu thế, phục hồi chức năng cộng đồng và nâng cao chất lượng sống”. Đây vừa là nhu cầu rất lớn của xã hội, vừa là thị trường đầy tiềm năng cho ngành công nghiệp dược liệu trong tương lai.
+Trân trọng cảm ơn ông!
Từ câu chuyện bảo tồn tri thức bản địa, phát triển dược liệu đến khát vọng đưa Đông y Việt Nam vươn ra thế giới, các chuyên gia đều có chung một nhận định: Thể chế chính là "nút thắt" cần được tháo gỡ để mở đường cho sự bứt phá.
Đâu là những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay và đâu sẽ là lời giải để y học cổ truyền phát triển xứng tầm?
Mời độc giả đón đọc Kỳ cuối: "Gỡ điểm nghẽn thể chế, mở vận hội mới cho y học cổ truyền" trên Báo Nhà báo và Công luận.