Năm đặc biệt của kinh tế Việt Nam: Tăng trưởng cao, đổi mới mạnh mẽ

(NB&CL) Năm 2025 được xem là một năm đặc biệt của nền kinh tế Việt Nam, khi vừa duy trì tăng trưởng cao, vừa đảm bảo ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát hiệu quả. Đặc biệt, đây là giai đoạn nền kinh tế bắt đầu dịch chuyển sang mô hình tăng trưởng chất lượng hơn, dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

(NB&CL) Năm 2025 được xem là một năm đặc biệt của nền kinh tế Việt Nam, khi vừa duy trì tăng trưởng cao, vừa đảm bảo ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát hiệu quả. Đặc biệt, đây là giai đoạn nền kinh tế bắt đầu dịch chuyển sang mô hình tăng trưởng chất lượng hơn, dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, PGS. TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định: Năm 2025 chính là dấu ấn quan trọng nhất trong giai đoạn tăng trưởng 2021 - 2025.

kinh-te-viet-nam-se-but-pha-manh-me-nam-2025-20250116101332.jpg

Năm 2025 chính là dấu ấn quan trọng nhất trong giai đoạn tăng trưởng 2021 - 2025.

+ Kết thúc năm 2025, cũng là kết thúc giai đoạn tăng trưởng 2021 - 2025. Nhìn lại chặng đường này, ông cho rằng dấu ấn lớn nhất của kinh tế Việt Nam nằm ở đâu?

- Tôi cho rằng dấu ấn lớn nhất của kinh tế Việt Nam trong toàn bộ giai đoạn 2021 - 2025 là sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng cao, ổn định vĩ mô và bắt đầu dịch chuyển sang mô hình tăng trưởng chất lượng hơn.

Trong đó, tôi ấn tượng với mức tăng trưởng GDP có thể đạt khoảng 8,2-8,5% của năm 2025. Bởi lẽ, đây là tốc độ Việt Nam chưa từng đạt được kể từ sau khủng hoảng tài chính 2008 - 2009.

Điểm đáng nói, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn này không chỉ dựa vào mở rộng quy mô mà đã chú trọng hơn đến chất lượng, thông qua việc nâng cao năng suất, tăng đóng góp của TFP (năng suất tổng các nhân tố) và cải thiện năng suất lao động.

Tôi ấn tượng với mức tăng trưởng GDP có thể đạt khoảng 8,2-8,5% của năm 2025. Bởi lẽ, đây là tốc độ Việt Nam chưa từng đạt được kể từ sau khủng hoảng tài chính 2008 - 2009.

PGS. TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam

Đây chính là hướng đi mà Việt Nam phải kiên trì trong giai đoạn tăng trưởng sắp tới, nhằm tránh bẫy thu nhập trung bình, hướng đến mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và là nước thu nhập cao vào năm 2045.

Bên cạnh việc chú trọng đến năng suất, Việt Nam cũng đang nỗ lực xanh hóa nền kinh tế. Có thể thấy rằng, thời gian gần đây, các chiến lược tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế tuần hoàn đã được lồng ghép vào các chính sách.

Việt Nam cũng bắt đầu thí điểm thị trường carbon từ năm 2025, dự kiến vận hành chính thức vào năm 2028. Đây là bước chuẩn bị quan trọng để chúng ta hòa nhập vào các tiêu chuẩn kinh tế xanh toàn cầu.

Một dấu ấn quan trọng khác là khả năng duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là kiểm soát lạm phát. Trong bối cảnh đầu tư công được đẩy mạnh và lượng vốn lớn được bơm vào nền kinh tế, lạm phát vẫn duy trì ở mức tương đối thấp, chỉ khoảng 3% trong giai đoạn 2021 - 2024, thấp hơn mục tiêu dưới 4% do Quốc hội và Chính phủ đề ra.

Trong 10 tháng đầu năm 2025, lạm phát khoảng 3,2%, vẫn nằm trong mục tiêu kiểm soát lạm phát năm nay là dưới 4,5%. Các cân đối vĩ mô được duy trì khá tốt.

h1.png
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam. Ảnh: Việt Vũ.

+ Như ông đã chia sẻ, ông ấn tượng với năm 2025 khi GDP của Việt Nam có thể đạt trên 8%. Tuy nhiên, nhìn lại toàn bộ giai đoạn 2021- 2025, năm 2022 cũng từng ghi nhận mức tăng trưởng rất cao, đạt 8,02%. Ông có thể chia sẻ rõ hơn về sự khác biệt và ý nghĩa của mức tăng trưởng năm 2025?

- Đúng là trong giai đoạn 2020 - 2025, năm 2022 từng ghi nhận mức tăng trưởng cao đột biến, nhưng đó là sự “bật lại” từ giai đoạn dịch bệnh và đứt gãy chuỗi cung ứng ở mức 2,58% năm 2021 về mức bình thường của giai đoạn sau dịch.

Ngoài nỗ lực chống dịch, không cần cố gắng gì nhiều thì tăng trưởng tự nhiên so với mức thấp như vậy thì đã ở mức cao. Vì thế tăng trưởng cao trên 8% của năm 2022 có đặc thù, không phản ánh hết nội lực và quỹ đạo của nền kinh tế.

Còn năm 2025 thì hoàn toàn khác. Tôi nghĩ GDP đạt mức trên 8% thì đấy là tăng trưởng đến từ sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt có vai trò của chính sách của Chính phủ, năng lực thực chất của nền kinh tế được phát huy và bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước tương đối thuận lợi cho thúc đẩy thương mại và đầu tư ở Việt Nam.

Nếu nói gọn một chữ về kinh tế Việt Nam năm 2025, tôi cho rằng đó là chữ “bứt phá”. Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2025 là 8,2% – 8,5%, tôi đánh giá mục tiêu này không chỉ là quyết tâm mà còn có cơ sở để đạt được

PGS. TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam

Điều này phản ánh hai điểm quan trọng. Thứ nhất, nền kinh tế đã phục hồi vững chắc hơn, không còn phụ thuộc vào các biện pháp kích cầu đặc biệt. Thứ hai, chất lượng tăng trưởng được cải thiện hơn khi các chỉ số về đóng góp từ TFP, về năng suất lao động được cải thiện ngày càng rõ nét hơn.

Nói cách khác, nếu như năm 2022 là “cú nhảy” do xuất phát điểm thấp, thì năm 2025 là “bước sải dài” nhờ năng lực nội sinh của nền kinh tế. Chính điều này mới là ý nghĩa lớn nhất, cho thấy chúng ta đang quyết tâm rõ hơn để đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả, bền vững.

h2.jpg

+ Vậy riêng năm 2025, ông có nhận định thế nào về kinh tế Việt Nam?

- Nếu nói gọn một chữ về kinh tế Việt Nam năm 2025, tôi cho rằng đó là chữ “bứt phá”. Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2025 là 8,2% – 8,5%, tôi đánh giá mục tiêu này không chỉ là quyết tâm mà còn có cơ sở để đạt được.

Từ khi Đổi mới năm 1986 đến nay, chỉ có hai năm Việt Nam tăng trưởng vượt 9%, đó là năm 1995 với mức tăng 9,5% và năm 1996 đạt 9,3% và có 6 năm tăng trưởng vượt 8%. Tuy nhiên, đây là giai đoạn những năm 1990, khi nền kinh tế quy mô còn nhỏ.

Còn suốt một giai đoạn dài sau đó, chưa năm nào đạt hơn 8% tăng trưởng cả, trừ năm 2022 vừa nói ở trên. Vì vậy, nếu năm 2025 đạt khoảng mức 8,2 – 8,5% thì đây sẽ là một thành tích rất đặc biệt.

Nhìn vào các chỉ tiêu thực tế, bức tranh kinh tế năm nay sáng lên ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt các động lực truyền thống có tăng trưởng tốt.

sản xuất 1

Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 11 tháng tăng trên 9% so với cùng kỳ, đây cũng là mức tăng cao nhất trong nhiều năm. Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là “mũi nhọn” tăng trưởng toàn ngành.

Về xuất nhập khẩu, mặc dù thế giới đang có nhiều biến động, như chính sách thuế quan mới của Mỹ hay các rào cản từ xanh hóa và thuế carbon của EU, thế nhưng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn không ngừng tăng trưởng.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong 11 tháng tăng khoảng 17% so với năm ngoái. Năm nay dự báo tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể vượt mức 800 tỷ USD, đây là con số cao kỷ lục của nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam tiếp tục xuất siêu, duy trì xu hướng từ năm 2016 đến nay, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GDP.

Năm 2025, hoạt động đầu tư tại Việt Nam tiếp tục ghi nhận những kết quả ấn tượng, bao gồm đầu tư công, đầu tư tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Điều đó thể hiện ở mấy điểm sau:

Về đầu tư công, Việt Nam đang tập trung vào các mục tiêu phát triển hạ tầng trọng điểm, như sân bay Long Thành, cao tốc Bắc - Nam, các dự án cao tốc ven biển, dự kiến xây dựng sân bay Gia Bình tại tỉnh Bắc Ninh, đường sắt cao tốc Bắc - Nam.

Toàn cảnh đường cất hạ cánh số 1 và nhà ga hành khách sân bay Long Thành.
Toàn cảnh đường cất hạ cánh số 1 và nhà ga hành khách sân bay Long Thành.

Số liệu của Cục Thống kê cho thấy, trong 10 tháng qua, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt hơn 640.000 tỷ đồng, bằng 63,1% kế hoạch năm và tăng 27,8% so với cùng kỳ năm trước.

Về đầu tư tư nhân, vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân. Đồng thời Chính phủ, cùng các Bộ, ngành, địa phương đã có nhiều chính sách mới tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy kinh tế tư nhân trở thành “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”.

Bình quân mỗi tháng, số doanh nghiệp gia nhập thị trường cao hơn số rút lui hơn 5.000 doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp của Việt Nam đã chạm mốc 1 triệu doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã thông qua Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), mở đường cho sự hợp tác mạnh mẽ hơn giữa Nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân. Vì vậy, nguồn lực đầu tư xã hội được khai thông tốt hơn trong năm 2025.

Đơn cử, trong dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng 8 thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vừa qua, cả nước đã đồng loạt khánh thành 250 công trình trọng điểm, bao gồm cả đầu tư công, đầu tư tư nhân, đầu tư PPP trên cả 34 tỉnh, thành phố với tổng mức đầu tư khoảng 1.280 tỷ đồng. Các dự án này được kỳ vọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng và cải thiện kết cấu hạ tầng quốc gia.

Tiếp đến là đầu tư nước ngoài (FDI) tiếp tục ghi dấu ấn mạnh mẽ, với vốn đăng ký tăng 15,6%, đạt 31,5 tỷ USD, vốn thực hiện tăng 8,8%, cho thấy Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn trong khu vực.

Ngoài ra, một số chỉ tiêu khác như tiêu dùng trong nước tăng trưởng tốt, số lượng khách du lịch đến Việt Nam cũng rất khả quan. Lạm phát được kiểm soát tốt, dưới 4% tức là đạt mục tiêu mục tiêu trong tầm kiểm soát 4,5- 5%.

Bên cạnh những thành tựu được phản ánh qua các con số, Việt Nam còn ghi nhận những cải thiện quan trọng về vị thế quốc tế. Việt Nam là một trong số ít quốc gia có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 14 quốc gia trong đó bao gồm toàn bộ 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc – Mỹ, Trung Quốc, Nga, Pháp và Anh, thậm chí cả những quốc gia có lợi ích đối nghịch nhau.

Điều này tạo ra môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và củng cố vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng và hợp tác quốc tế.

Năm 2025 cũng cho thấy Việt Nam đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng: từ giai đoạn dựa vào tài nguyên (resource-driven) sang dựa vào đầu tư và hiệu quả (efficiency-driven) và đã bắt đầu đặt những bước đầu tiên sang mô hình dựa vào đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ (innovation-driven). Như vậy, Việt Nam đang chuẩn bị bứt phá, không nhất thiết phải đi tuần tự qua các giai đoạn của mô hình tăng trưởng kinh tế.

12.jpg

Việt Nam là một trong số ít quốc gia có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 14 quốc gia, trong đó bao gồm toàn bộ 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc – Mỹ, Trung Quốc, Nga, Pháp và Anh, thậm chí cả những quốc gia có lợi ích đối nghịch nhau.

+ Theo ông, nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang gặp những hạn chế nào, và đâu là những rào cản chính có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng trong giai đoạn 2026- 2030?

- Mặc dù Việt Nam đạt được nhiều thành tựu, nhưng nền kinh tế vẫn còn một số hạn chế cần được giải quyết. Trước tiên đó là vấn đề thể chế, đây là điểm nghẽn của điểm nghẽn.

Trong thể chế, ngoài một số vấn đề về chất lượng chính sách, việc tổ chức thực hiện và phối hợp thực hiện ở các cấp còn đang gặp nhiều vướng mắc. Chính sách vì vậy, kể cả là chính sách đã được thiết kế tốt đi nữa thì cũng chưa đi vào được cuộc sống ngay để giải quyết được các vấn đề cấp bách đặt ra.

Thứ hai, đó là vấn đề chuyển đổi cơ cấu. Có thể nói cơ cấu kinh tế thay đổi rất chậm từ năm 2017 đến nay. Nhiều mục tiêu của công nghiệp hoá chưa đạt được.

Năng suất lao động thấp, đóng góp của TFP còn thấp trong GDP, công nghiệp chế biến – chế tạo mới chỉ khoảng 24% GDP, không đạt mục tiêu công nghiệp hoá đặt ra, cơ cấu sản phẩm hàng hoá công nghệ cao trong các sản phẩm hàng hoá vẫn còn thấp...

Về hội nhập, nền kinh tế tuy mở cửa mạnh mẽ nhưng chúng ta chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, do đó các doanh nghiệp Việt chậm lớn, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ tập trung khai thác những gì họ thấy có lợi trước mắt mà không đưa lại những thứ mà chúng ta kỳ vọng nhiều như chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực công nghệ và quản trị….

Việt Nam chưa tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao thì chúng ta dễ rơi vào bẫy lao động giá rẻ, và qua đó rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Thứ ba, năng lực chế biến còn hạn chế. Do đó thiếu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Ví dụ, khai thác tài nguyên khoáng sản, trong đó có đất hiếm, có tiềm năng lớn nhưng Việt Nam chủ yếu xuất khẩu thô do thiếu năng lực chế biến và tinh chế. Điều này đòi hỏi chúng ta phải đầu tư rất nhiều cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo so với trước đây.

Mức đầu tư cho khoa học công nghệ của chúng ta hiện mới chỉ khoảng 0,5-0,6% GDP là mức rất thấp, chỉ bằng 1/4 mức bình quân của thế giới. Cần phải có đột phá mạnh mẽ trong lĩnh vực này.

Thứ tư, nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Hiện nay, mỗi năm chúng ta thiếu khoảng 150.000 kỹ sư IT và lập trình viên để phục vụ cho công nghiệp công nghệ cao, đồng thời lao động kỹ năng còn thiếu và yếu. Bên cạnh đó, trong bối cảnh mới, chúng ta đã nhận diện được là cần phải thu hút được tinh hoa, nhân tài ở bên ngoài về phục vụ đất nước nhưng trên thực tế hiện tượng đó chưa được diễn ra.

cn.jpg

Việt Nam chưa tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao thì chúng ta dễ rơi vào bẫy lao động giá rẻ, và qua đó rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Thứ năm, mặc dù kết cấu hạ tầng đã được cải thiện khá rõ rệt như giao thông, năng lượng, tuy nhiên hạ tầng số chưa phát triển, đủ đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi số. Cần phải có đầu tư nhiều hơn cho hạ tầng dữ liệu, hạ tầng kết nối, hạ tầng nền tảng số cùng với việc hoàn thiện thể chế để thúc đẩy chuyển đổi số, tạo ra các động lực mới cho tăng trưởng và phát triển nhanh.

Thứ sáu, cơ chế tài chính ở một số lĩnh vực còn đang là sự cản trở phát triển. Ví dụ như cơ chế tài chính cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhiều quy định, định mức lạc hậu vẫn còn đang được áp dụng.

Bên cạnh đó, cần phải có đột phá mạnh mẽ hơn nữa về cơ chế huy động và sử dụng tài chính. Cần có cơ chế đột phá hơn để khuyến khích khu vực tư nhân tham gia mạnh mẽ vào đầu tư các công trình lớn, đặc biệt thông qua các mô hình hợp tác công – tư (PPP).

Thứ bảy, nhiều vấn đề về môi trường chưa được giải quyết làm ảnh hưởng đến chất lượng của tăng trưởng. Chúng ta đã nâng cao được khá tốt nhận thức về bảo vệ môi trường và xanh hoá, tuy nhiều cần nhiều hơn nữa những hành động cụ thể cho đầu tư và tài chính xanh và xử lý ô nhiễm môi trường.

Tóm lại, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc khắc phục các hạn chế cố hữu và quản lý các rủi ro mới sẽ là yếu tố then chốt để Việt Nam tiếp tục ổn định vĩ mô và duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững trong những năm tới.

+ Xin cảm ơn ông!

Việt Vũ (Thực hiện)

Xem thêm

Hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Ảnh: DNSE

Muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam không thể mãi dựa vào vốn ngân hàng

(CLO) Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong những năm tới, kéo theo nhu cầu vốn đầu tư lên tới hàng chục triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, khi tín dụng đã tương đương khoảng 146% GDP và nhu cầu vốn trung, dài hạn ngày càng lớn, các chuyên gia cảnh báo việc phụ thuộc quá nhiều vào hệ thống ngân hàng sẽ khiến nền kinh tế đối mặt với nhiều rủi ro.

Ngưỡng 20.000 tỷ đồng quá cao, VCCI đề nghị mở rộng cơ chế cho dự án BT

Ngưỡng 20.000 tỷ đồng quá cao, VCCI đề nghị mở rộng cơ chế cho dự án BT

(CLO) Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý đối với dự thảo Nghị định sửa đổi các Nghị định hướng dẫn Luật PPP, trong đó đề xuất điều chỉnh một số quy định tại Nghị định 257/2025/NĐ-CP nhằm tăng tính khả thi trong triển khai các dự án hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).

Lào Cai phê duyệt dự án hầm Hàm Rồng 2.500 tỉ đồng

Lào Cai phê duyệt dự án hầm Hàm Rồng 2.500 tỉ đồng

(CLO) UBND tỉnh Lào Cai vừa phê duyệt chủ trương đầu tư dự án hầm đường bộ Hàm Rồng với tổng mức đầu tư 2.500 tỉ đồng. Công trình được kỳ vọng tạo thêm trục kết nối giữa Quốc lộ 4D và tỉnh lộ 152, góp phần giảm áp lực giao thông, mở rộng không gian phát triển đô thị và du lịch tại Sa Pa.

Kiểm tra thuế điện tử: Người nộp thuế được giảm phiền hà, hạn chế sách nhiễu

Kiểm tra thuế điện tử: Người nộp thuế được giảm phiền hà, hạn chế sách nhiễu

(CLO) Việc kiểm tra thuế bằng phương thức điện tử giúp người nộp thuế có thể cung cấp hồ sơ, giải trình và làm việc với cơ quan thuế hoàn toàn trên môi trường số, không cần tiếp xúc trực tiếp trong phần lớn các trường hợp. Quy trình này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, hạn chế phát sinh phiền hà, sách nhiễu trong quá trình kiểm tra thuế.

Muốn tăng trưởng bứt phá, Việt Nam cần một thị trường chứng khoán đủ sâu và đủ mạnh

Muốn tăng trưởng bứt phá, Việt Nam cần một thị trường chứng khoán đủ sâu và đủ mạnh

(CLO) Theo lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, một nền kinh tế không thể phát triển bền vững nếu thiếu một thị trường chứng khoán đủ lớn, đủ sâu và đủ mạnh, đồng thời việc nâng hạng thị trường không phải là đích đến mà là động lực để thúc đẩy cải cách toàn diện thị trường vốn.

Doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ ra "chìa khóa" để Việt Nam thu hút FDI chất lượng cao

Doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ ra "chìa khóa" để Việt Nam thu hút FDI chất lượng cao

(NB&CL) Các “ông lớn” đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc đều đánh giá cao môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Đặc biệt, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tiếp tục củng cố niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế vào triển vọng phát triển của Việt Nam.

AI 'Make in Vietnam': Kỳ vọng xuất hiện những doanh nghiệp công nghệ mới của Việt Nam

AI 'Make in Vietnam': Kỳ vọng xuất hiện những doanh nghiệp công nghệ mới của Việt Nam

(CLO) AI không còn là công nghệ của tương lai mà đã trở thành công cụ hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống. Trong bối cảnh cuộc đua AI toàn cầu diễn ra ngày càng quyết liệt, Việt Nam đang đặt nhiều kỳ vọng vào thế hệ nhà sáng tạo trẻ có thể tạo ra những sản phẩm AI Make in Vietnam và những doanh nghiệp công nghệ mới trong tương lai.

Vì sao các nước vùng Vịnh rót hàng trăm tỷ USD vào châu Phi?

Vì sao các nước vùng Vịnh rót hàng trăm tỷ USD vào châu Phi?

(CLO) Hơn 100 tỷ USD đã được các nước vùng Vịnh rót vào châu Phi trong một thập kỷ qua, biến lục địa này thành một trong những điểm đến đầu tư chiến lược của Trung Đông. Đằng sau làn sóng vốn khổng lồ là mục tiêu đa dạng hóa nền kinh tế, đảm bảo nguồn cung nguyên liệu và mở rộng ảnh hưởng địa chính trị.

Vietnam AI Innovation Challenge 2026: Bệ phóng nhân lực AI chất lượng cao cho nền kinh tế số

Vietnam AI Innovation Challenge 2026: Bệ phóng nhân lực AI chất lượng cao cho nền kinh tế số

(CLO) Ngày 17/7, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) phối hợp cùng Meta, AI for Vietnam và các đối tác tổ chức Lễ phát động Chương trình Thách thức Đổi mới sáng tạo Việt Nam (Vietnam Innovation Challenge - VIC) 2026 và công bố kế hoạch đăng cai Cuộc thi Olympic Trí tuệ nhân tạo Quốc tế (International Artificial Intelligence Olympiad - IAIO) 2027.

Muốn hút 'đại bàng', đặc khu kinh tế Việt Nam cần nhiều hơn các ưu đãi

Muốn hút 'đại bàng', đặc khu kinh tế Việt Nam cần nhiều hơn các ưu đãi

(CLO) Các đặc khu kinh tế được kỳ vọng trở thành những cực tăng trưởng mới của Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu ngày càng khốc liệt, chỉ riêng các chính sách ưu đãi là chưa đủ để thu hút những "đại bàng" công nghệ và dòng vốn chất lượng cao.

 Kinh tế tăng tốc, những mất cân đối nào đang tích tụ?

Kinh tế tăng tốc, những mất cân đối nào đang tích tụ?

(CLO) 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong hơn hai thập niên. Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới: Chính khi các chỉ số vĩ mô đang thuận lợi nhất này cần nhìn thẳng vào những vấn đề cơ cấu đang tích tụ phía sau bức tranh tăng trưởng để nhận diện đúng các thách thức và chuẩn bị dư địa cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Tăng trưởng 2 con số cần phương thức điều hành mới

Tăng trưởng 2 con số cần phương thức điều hành mới

(CLO) Kiên định với mục tiêu đưa nền kinh tế bước vào quỹ đạo tăng trưởng hai con số cho năm 2026 và cả giai đoạn 2026-2030, Lãnh đạo Đảng và Chính phủ đã có chỉ đạo mạnh mẽ về yêu cầu đổi mới toàn diện tư duy điều hành, nâng cao năng lực thực thi và tháo gỡ mọi rào cản nguồn lực. Trả lời phỏng vấn báo Nhà báo và Công luận, GS. Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân đã phân tích về những điều kiện then chốt, những "nút thắt" cần tháo gỡ để biến quyết tâm chính trị thành động lực phát triển thực chất và bền vững

Cỡ chữ bài viết: