Quốc tịch và cội nguồn

(NB&CL) Người Việt Nam hầu như ai cũng biết, nhiều người thuộc lòng Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du - bút hiệu Tố Như: Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh/Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng/Có nhà Viên ngoại họ Vương”...

Tố Như dựa vào một câu chuyện cổ Trung Quốc, qua một tác phẩm tầm thường là Thanh Tâm tài nhân, từ đó sáng tạo nên một kiệt tác đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, phản ánh cuộc sống xã hội và tâm linh người Việt.

Truyện viết bằng thơ lục bát quen thuộc, dễ ngâm dễ nhớ, nhờ vậy mau chóng lan truyền trong xã hội. Bà mẹ Việt hát Kiều ru con nằm nôi, chàng trai Việt qua mấy câu Kiều tỏ tình với cô gái. Truyện Kiều được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tiếp đó chuyển ngữ sang mấy chục thứ tiếng nước ngoài. Kỷ niệm 100 năm ngày Nguyễn Du ra đời, Tổ chức UNESCO tôn vinh nhà thơ Việt Nam là danh nhân văn hóa. Truyện Kiều là rường cột của văn hóa Việt Nam, chứ đâu phải là văn hóa Trung Hoa.

quoc tich va coi nguon hinh 1

Những người có biết ít nhiều tiếng Pháp đều không lạ vở bi hài kịch Le Cid của Pierre Corneille (1606-1684), tác phẩm chỉ ít lâu sau ngày công diễn đã trở thành mẫu mực của sân khấu cổ điển Pháp. Thời Pháp thuộc, bất kỳ học sinh nào ở nước ta học xong bậc tiểu học, muốn mon men lên cao hơn nữa, nhất thiết không thể không thành thạo vở Le Cid, mà cốt truyện cũng như danh xưng các nhân vật đều được trích từ một thiên sử thi huyền thoại Tây Ban Nha.

Năm 1919, Phạm Quỳnh chuyển tác phẩm của P. Corneille sang tiếng Việt, đăng trên tạp chí Nam Phong, Hà Nội dưới nhan đề “Lôi Xích”. Tại Huế, năm 1936, Ưng Bình Thúc Giạ Thị chuyển Le Cid thành một vở tuồng, gọi hát bội có lẽ đúng hơn, công diễn tại Huế và nhiều nơi khác ở miền Trung, đến đâu cũng được công chúng đón chờ. Tác phẩm in thành sách mang tên “Tuồng Lộ Địch”.

quoc tich va coi nguon hinh 2

Le Cid là tác phẩm mà người Pháp cũng như văn học Pháp từ thế kỷ XVII đến hôm nay luôn lấy làm tự hào, chứ đâu phải là văn học Tây Ban Nha.

Bộ “Nghìn lẻ một đêm” của Antoine Galland mở đầu với câu: “Sử ký triều đại Sassanides, triều đại những nhà vua Ba Tư cổ từng mở rộng biên cương sang đất Ấn Độ cho tới nước Trung Hoa chép rằng...”. Vậy là đủ rõ. Qua bộ truyện “Nghìn lẻ một đêm”, người A Rập kể chuyện các nước Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Ai Cập, Trung Hoa xưa...

Nhà văn Nga Maxime Gorki tại lời đề tựa bản dịch “Nghìn lẻ một đêm” xuất bản năm 1926 tại Leningrad viết: “Trong số các di tích tuyệt vời của sáng tác truyền khẩu dân gian, các truyện do nàng Scheherazade kể là di tích đồ sộ (...) Công trình dệt gấm bằng từ ngữ này thể hiện sức mạnh trong trí tưởng tượng của các dân tộc phương Đông - người A Rập, người Ba Tư, người Ấn Độ, phủ lên trái đất một tấm thảm từ ngữ đẹp đến lạ lùng”.

Nhà văn Pháp Antoine Galland (1646-1715) ngay khi xuất bản tập đầu Nghìn lẻ một đêm tại Paris năm 1714, đã ghi vào bên dưới đề sách Les Mille et Une Nuits, Contes arabes - truyện cổ A Rập. Tại sao người A Rập dám ẵm các truyện kể về nhiều nước thành tác phẩm của dân tộc mình? Viện sĩ Hàn lâm Pháp Jules Janin (1804-1874) lý giải: “Dân tộc A Rập là dân tộc của những nhà thơ kể chuyện. Thơ đến với họ từ lúc họ mở mắt chào đời, và trong suốt cuộc sống xen lẫn nghỉ ngơi và tất bật, họ không biết hưởng thú vui nào khác ngoài tình yêu, bằng một câu chuyện thật rối rắm, thật ly kỳ chồng chất đủ thứ đam mê phiêu lãng (...) Một câu chuyện kể cho ra kể, tức là kể sao cho thật lạ lùng, thật kỳ diệu. Chỉ cần có thế thôi là đủ cho người A Rập lắng tai buông mình vào cái nôi đu đưa của ngôn ngữ đầy nhạc điệu của họ”.

quoc tich va coi nguon hinh 3

Nếu không có tài kể chuyện và thú đam mê nghe chuyện của người A Rập, có thể nhiều truyện truyền khẩu dân gian đã rơi vào quên lãng cùng dòng chảy thời gian. Nếu không có công lao của Antoine Galland chuyển từ tiếng A Rập sang tiếng Pháp rồi cho xuất bản, có lẽ các nước châu Âu và nhiều quốc gia thuộc các châu lục khác chưa có điều kiện sớm biết đến những truyện kể của người A Rập ở Trung Đông.

*

Trong thời đại ngày nay, triệu triệu người dân ra đời tại các nước khác nhau, trong đó có người Việt Nam, vì nhiều nguyên nhân và mơ ước, qua nhiều phương tiện và thời điểm, đã tìm cách rời đất nước mình đi làm ăn, sinh sống ở nước ngoài. Người Việt Nam bất kỳ cư trú tại quốc gia nào, thành đạt hay gian nan, đều hướng về nguồn cội. Hầu như ai ai cũng coi mình đều là con Lạc cháu Hồng, “Dù ai buôn bán gần xa/Đến ngày Giỗ Tổ tháng ba thì về”. Do nhu cầu của cuộc sống, nhằm thích ứng với luật pháp quốc gia nơi cư trú và làm ăn, nhiều người Việt phải mang quốc tịch nước khác. Lại có những người đang kinh doanh thành đạt ở trong nước, vẫn muốn được thoải mái xuất nhập cảnh để rồi tha hồ vi vu qua nhiều xứ với những tính toán mỗi người một cách, không ít người bỏ bộn tiền ra “mua” quốc tịch nước ngoài.

Người Việt cư trú ở mọi nơi, trừ một số trường hợp cá biệt, ai ai cũng hướng về nguồn cội, ai ai cũng mong muốn tùy khả năng và hoàn cảnh, góp phần xây dựng nước Việt Nam độc lập tự do, dân giàu nước mạnh, vì hạnh phúc của mọi người. Thời gian trước đại dịch COVID-19, khi thế giới chưa phải hạn chế việc đi lại, cứ đến dịp đón Tết Nguyên đán cổ truyền là triệu triệu người Việt từ các nước khác ào ạt về thăm gia đình, bạn hữu, thắp nén hương lên bàn thờ tiên tổ, đón mừng năm mới tại quê hương.

“Quốc tịch”“Cội nguồn” là hai câu chuyện khác nhau dù gắn kết với nhau. Người cẩn trọng thường nhìn trước ngó sau khi bàn về “quốc tịch” hay “cội nguồn” của một con người, một tác phẩm văn học, một công trình nghệ thuật, khoa học, công nghệ cổ cũng như kim.

Già Phan

Xem thêm

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

(NB&CL) Giữa tháng 5 năm 2026, tôi tìm trên giá sách riêng, tập hợp được hơn chục tác phẩm của nhà văn, nhà báo Nguyễn Khắc Phê. Cuốn sách xuất bản gần đây nhất in 1500 bản của ông ra mắt đầu năm 2026 có tựa đề “Quảng Trị - Vùng đất hội tụ” (Nhà Xuất bản Hội Nhà văn).

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

(NB&CL) Để bảo tàng tư nhân “sống sót” và hoạt động chuyên nghiệp là câu chuyện hoàn toàn không đơn giản. Thực tế tại Việt Nam, không hiếm chuyện chủ nhân bảo tàng rơi vào cảnh “vừa làm chủ, vừa làm nhân viên” vì nguồn lực tài chính hạn hẹp. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Huy (nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người sáng lập Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên), Nhà nước cần có chính sách để thu hút các nguồn lực tài trợ cho hoạt động bảo tàng, từ đó tạo điểm tựa vững chắc cho các bảo tàng tư nhân phát triển bền vững.

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

(NB&CL) Với việc trưng bày các hiện vật đến từ nhiều nền văn hóa, nhiều bảo tàng tư nhân đang thực hiện tiêu chí và thông điệp cốt lõi của UNESCO là góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa các dân tộc, xóa bỏ sự ngăn cách và tệ nạn phân biệt đối xử về văn hóa, tôn vinh các giá trị nhân văn, nhân đạo giữa các dân tộc.

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

(CLO)- Ban tổ chức Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026 vừa chính thức ban hành quy chế sửa đổi với hàng loạt điều chỉnh quan trọng. Việc khôi phục trọn vẹn thể thức hai vòng đấu sau nhiều năm gián đoạn cùng những thay đổi bước ngoặt trong luật phân định thắng thua là những điểm mới cốt lõi nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng chuyên môn cho di sản văn hóa phi vật thể quốc gia này.

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

(CLO) Với người Khmer Nam Bộ, việc vào chùa tu học không đơn thuần là thực hành tín ngưỡng mà còn là cách báo hiếu cha mẹ, rèn luyện đạo đức và đánh dấu bước trưởng thành của một người đàn ông trước khi bước vào cuộc sống gia đình, xã hội.

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

(CLO) Chương trình Phát triển thủ công đương đại trên nền tảng Di sản làng nghề trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 được khởi động với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái kết nối giữa nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, góp phần đưa nguồn lực di sản trở thành động lực cho sáng tạo và phát triển bền vững.

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

(CLO) Lần đầu tiên, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) triển khai dự án truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã mang tên “Vietnam Wild Live - Kết nối thiên nhiên, lan tỏa nhận thức”, đưa những hình ảnh chân thực của hệ sinh thái tự nhiên đến với khán giả trong và ngoài nước.

Cỡ chữ bài viết: