Tiếng lóng làng Đa Chất: Di sản bị bỏ quên?

(NB&CL) Tõi Xưỡn - tiếng lóng làng Đa Chất gắn liền với đời sống sinh hoạt của người thợ làm nghề đóng cối xay ở địa phương. Khi nghề đóng cối mất đi, tiếng lóng không còn “đất” để tồn tại, phát triển, nên rất cần những động thái mạnh mẽ để bảo tồn. Vậy nhưng, trong nhiều năm qua, di sản độc đáo này dường như đã bị lãng quên…

Công cụ giao tiếp “độc lạ”

Cách trung tâm thành phố Hà Nội chừng 40km, làng Đa Chất (xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội) hiện vẫn lưu giữ một hệ thống ngôn ngữ đặc biệt mà chỉ người dân trong làng hiểu với nhau. Đó là một loại tiếng lóng, mà người dân trong làng gọi là “Tõi Xưỡn”.

Theo các nhà nghiên cứu văn hoá, tiếng lóng ở làng Đa Chất gắn liền với đời sống sinh hoạt của người thợ làm nghề đóng cối xay. Thời trước, người nông dân phải dùng cối xay bóc tách vỏ lúa để làm ra gạo, nên chiếc cối xay lúa bằng tre là đồ dùng không thể thiếu. Đó cũng là thời kỳ mà người thợ đóng cối Đa Chất đi khắp nơi làm nghề. Mỗi gánh thợ cối Đa Chất có hai người, thường rong ruổi ở các làng quê hàng tháng trời. Đi nhiều nơi, gặp nhiều người, ăn uống sinh hoạt phải nhờ chủ nhà nên họ phải có “mật ngữ” để bảo vệ nhau cũng như để hạn chế những phiền hà, bất tiện trong những việc cần trao đổi riêng.

tieng long lang da chat di san bi bo quen hinh 1

Cụ Nguyễn Ngọc Đoán mấy năm trước còn khoẻ, có thể “trình diễn” hoạt động xay lúa, nay đã già yếu, không nhớ được nhiều tiếng lóng.

Là người có nhiều năm theo cha đi khắp nơi đóng cối, ông Nguyễn Văn Tuyên, trưởng thôn Đa Chất kể rằng, hành trang của hai người thợ cối luôn là hai chiếc bồ, bên trong là quần áo, đồ dùng sinh hoạt và vài thứ dao, búa, tràng, đục. Chiếc cưa do người thợ cả đeo trên vai, vừa đi đường người thợ vừa rao “ai đóng cối không…”. Khi có người gọi thuê đóng cối, cùng với đàm phán tiền công người thợ còn phải thống nhất về chuyện ăn nghỉ. Với hai người, thời gian làm một cái cối có thể xong trong nửa ngày, nhưng người thợ cối phải nhẩn nha làm cả ngày để còn ngủ qua đêm tại nhà chủ, sáng mai lên đường tìm nhà khác. Ăn nhờ, ở đậu như vậy, những người thợ cối luôn phải nhún nhường và khi trao đổi cũng phải tế nhị, kín đáo.

Chính ở môi trường như vậy, tiếng lóng ra đời và được của người thợ cối Đa Chất truyền dạy cho nhau, qua quá trình lâu dài trở thành thứ ngôn ngữ “độc lạ”. Theo khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị Di sản văn hóa, dù không phải là một thứ tiếng cổ bởi nó không có một quy luật ngữ âm nào, nhưng hệ thống từ vựng của tiếng lóng Đa Chất có thể đủ để giao tiếp hằng ngày.

Người thợ cối có thể nói nhuần nhuyễn ngôn ngữ này dựa theo phương pháp truyền khẩu và áp dụng vào những tình huống cụ thể. Người thợ Đa Chất nói “bệt” nghĩa là nhà, “thít” là ăn uống, “dùm” là tiền, “mận” là nước, “choáng” là đẹp, “êm” là ngon, “thuôn” là tốt, “sởn” là đi, “sưỡn” là máy móc… Chẳng hạn, nhà chủ đãi họ bữa ăn ngon, người thợ cối sẽ đánh giá: “Cái bệt này cốn lắm, cho thít êm quá” (cái nhà này giàu lắm, nó cho ăn ngon quá). Khi có khách tới nhà, người Đa Chất nói “Xảo sởn chác cho xì nhất đạng” (con đi mua cho bố một con gà, về thịt). Khi đi tàu xe, người thợ thấy có trộm cắp thì nhắc nhau “xảo tớp hách”, nghĩa là “có trộm đấy”…

Những năm 2000, ngành văn hoá Hà Tây (cũ) đã nghiên cứu, sưu tầm tiếng lóng Đa Chất, tập hợp được hơn 200 từ thông dụng nhất, in trong cuốn sách “Văn hoá dân gian làng Đa Chất”. Năm 2014, Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị Di sản văn hóa đến Đa Chất thực hiện dự án nghiên cứu, bảo vệ tiếng lóng, đã sưu tầm và bổ sung thêm được 114 từ và cụm từ lóng cùng với 35 bối cảnh sử dụng tiếng lóng.

Theo ông Tuyên, từ sau năm 2000, khi máy móc thay thế những chiếc cối xay tre thì người thợ cối cũng không còn “đất diễn” nữa. Nghề đóng cối mất đi đồng nghĩa với việc tiếng lóng không còn môi trường để tồn tại, phát triển. Tuy nhiên, tiếng lóng vẫn được người có tuổi ở Đa Chất sử dụng mỗi khi ngồi uống trà, ôn lại chuyện xưa cũ, hoặc số ít gia đình sử dụng khi có khách. Đặc biệt, khi đi khỏi làng, những người Đa Chất có tuổi vẫn dùng tiếng lóng để trao đổi với nhau trong những tình huống cần thiết.

Hiển hiện nguy cơ mai một

Mặc dù vậy, ông Tuyên cũng như nhiều người dân Đa Chất đều cho rằng, tiếng lóng Đa Chất hiện đang đứng trước nguy cơ mai một. Những người thợ cối có thể nói được tiếng lóng nhiều nhất nay đều qua đời hoặc đã già yếu, những người thế hệ sau, từng làm thợ cối cũng chỉ có thể nói được 50 - 60% so với “các cụ”. Số này không nhiều, đâu đó chỉ còn trên dưới 10 người. Lớp trẻ thì không được truyền dạy, thực hành thường xuyên nên chỉ sử dụng được rất ít từ.

tieng long lang da chat di san bi bo quen hinh 2

Những người thợ cối ngày xưa như ông Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Văn Tuyên, Đỗ Duy Cư… chỉ sử dụng tiếng lóng khi ngồi uống trà cùng nhau, ôn lại chuyện xưa cũ.

Năm 2016, ngành văn hoá Thành phố Hà Nội đã tiến hành kiểm kê các di sản văn hoá phi vật thể trên địa bàn. Kết quả cho thấy, tiếng lóng Đa Chất đã bị thu hẹp không gian thực hành, số người có thể thực hành di sản ngày càng ít nên Sở Văn hoá - Thể thao Hà Nội đã đưa tiếng lóng Đa Chất vào danh sách 11 di sản văn hoá cần được bảo vệ khẩn cấp. Cơ quan này cũng lên kế hoạch lập hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa tiếng lóng làng Đa Chất vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Tuy nhiên, suốt từ đó đến nay, di sản tiếng lóng Đa Chất dường như bị lãng quên. Những người dân Đa Chất cho biết, ngoại trừ vài đợt có chuyên gia, nhà nghiên cứu về làng khảo sát, nắm bắt thông tin hay thi thoảng báo chí về lấy tư liệu viết bài thì việc bảo tồn tiếng lóng không có gì mới. Đến giờ, những gì họ có trong tay chỉ duy nhất quyển sách “Văn hóa dân gian làng Đa Chất” đã in từ năm 2007. Ông Nguyễn Văn Phường - nguyên Chủ tịch xã Đại Xuyên thì còn nhớ mang máng cách nay chừng 10 năm, có đoàn của Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị Di sản văn hóa về xã nghiên cứu về tiếng lóng.

“Kết thúc dự án, tại một hội nghị được tổ chức ở xã, họ công bố đã viết một cuốn sách và làm một bộ phim video 20 phút về tiếng lóng làng Đa Chất. Nhưng tất cả chỉ có chừng đó thôi. Chúng tôi chưa từng được xem video cũng như không rõ sách viết gì. Rồi cả chục năm nay không thấy ai nói gì thêm nữa”, ông Phường cho biết.

Theo ông Tuyên, ông Phường, cơ bản từ xưa đến nay, về mặt chính quyền chưa có cách thức bảo tồn nào, chủ yếu Nhân dân tự bảo tồn qua truyền miệng giữa các thế hệ. Gần đây, sau khi nhận biết tiếng lóng là di sản quý của địa phương, người dân trong làng đã truyền dạy rộng rãi cho mọi người, kể cả đối tượng mà tục lệ xưa cấm kỵ như con gái hay người ngoài làng về làm dâu. Nhờ đó mà số người biết về tiếng lóng nhiều hơn, nhưng do là hoạt động tự phát, không có bài bản, lại không được thực hành thường xuyên nên số người được dạy chỉ nói được bập bõm một số từ mà thôi.

tieng long lang da chat di san bi bo quen hinh 3

Đình làng Đa Chất khoảng 500 năm tuổi.

Trong dịp về Đa Chất nghiên cứu tiếng lóng, PGS.TS. Nguyễn Văn Huy - Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị di sản văn hóa có đưa ra gợi ý, thôn có thể thành lập câu lạc bộ tiếng lóng và tổ chức sinh hoạt, giao lưu thường xuyên. Về phía chính quyền nên có kế hoạch tổ chức một không gian nhỏ trưng bày, trình diễn về nghề đóng cối và tiếng lóng ở làng Đa Chất để các chủ thể văn hóa bảo tồn, giữ gìn di sản. Vậy nhưng, theo ông Tuyên, cho đến bây giờ những hoạt động này vẫn chưa thể thực hiện được vì có nhiều vướng mắc.

“Người làng Đa Chất vẫn đau đáu nỗi lo di sản sẽ dần mai một. Mong muốn của chúng tôi là một ngày nào đó, tiếng lóng được đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Có như vậy, những khó khăn, vướng mắc mới được tháo gỡ, để chúng tôi thuận lợi hơn trong việc bảo tồn di sản quý giá của cha ông”, ông Tuyên chia sẻ.

Thế Vũ

Xem thêm

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

(NB&CL) Giữa tháng 5 năm 2026, tôi tìm trên giá sách riêng, tập hợp được hơn chục tác phẩm của nhà văn, nhà báo Nguyễn Khắc Phê. Cuốn sách xuất bản gần đây nhất in 1500 bản của ông ra mắt đầu năm 2026 có tựa đề “Quảng Trị - Vùng đất hội tụ” (Nhà Xuất bản Hội Nhà văn).

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

(NB&CL) Để bảo tàng tư nhân “sống sót” và hoạt động chuyên nghiệp là câu chuyện hoàn toàn không đơn giản. Thực tế tại Việt Nam, không hiếm chuyện chủ nhân bảo tàng rơi vào cảnh “vừa làm chủ, vừa làm nhân viên” vì nguồn lực tài chính hạn hẹp. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Huy (nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người sáng lập Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên), Nhà nước cần có chính sách để thu hút các nguồn lực tài trợ cho hoạt động bảo tàng, từ đó tạo điểm tựa vững chắc cho các bảo tàng tư nhân phát triển bền vững.

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

(NB&CL) Với việc trưng bày các hiện vật đến từ nhiều nền văn hóa, nhiều bảo tàng tư nhân đang thực hiện tiêu chí và thông điệp cốt lõi của UNESCO là góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa các dân tộc, xóa bỏ sự ngăn cách và tệ nạn phân biệt đối xử về văn hóa, tôn vinh các giá trị nhân văn, nhân đạo giữa các dân tộc.

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

(CLO)- Ban tổ chức Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026 vừa chính thức ban hành quy chế sửa đổi với hàng loạt điều chỉnh quan trọng. Việc khôi phục trọn vẹn thể thức hai vòng đấu sau nhiều năm gián đoạn cùng những thay đổi bước ngoặt trong luật phân định thắng thua là những điểm mới cốt lõi nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng chuyên môn cho di sản văn hóa phi vật thể quốc gia này.

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

(CLO) Với người Khmer Nam Bộ, việc vào chùa tu học không đơn thuần là thực hành tín ngưỡng mà còn là cách báo hiếu cha mẹ, rèn luyện đạo đức và đánh dấu bước trưởng thành của một người đàn ông trước khi bước vào cuộc sống gia đình, xã hội.

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

(CLO) Chương trình Phát triển thủ công đương đại trên nền tảng Di sản làng nghề trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 được khởi động với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái kết nối giữa nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, góp phần đưa nguồn lực di sản trở thành động lực cho sáng tạo và phát triển bền vững.

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

(CLO) Lần đầu tiên, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) triển khai dự án truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã mang tên “Vietnam Wild Live - Kết nối thiên nhiên, lan tỏa nhận thức”, đưa những hình ảnh chân thực của hệ sinh thái tự nhiên đến với khán giả trong và ngoài nước.

Cỡ chữ bài viết: