Vun đắp quan hệ Việt Nam-Trung Quốc phát triển ổn định, vững bền

“Mối tình thắm thiết Việt-Hoa, vừa là đồng chí, vừa là anh em”

anh1.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trung Quốc. Quần chúng dâng hoa lên Người, tháng 7/1955. Nguồn: Tài liệu lưu trữ Bộ Ngoại giao

Đó là câu nói được Chủ tịch Hồ Chí Minh vui mừng khẳng định trong dịp đón tiếp Chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ sang thăm hữu nghị chính thức Việt Nam vào tháng 5/1963. Với với vốn Hán ngữ uyên thâm, kiến thức sâu rộng trong nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán Trung Quốc, lại có nhiều năm sống trên đất nước Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm có được những hiểu biết toàn diện và sâu sắc về đất nước, con người Trung Quốc. Người hiểu rõ vị trí địa lý, vị thế quốc tế và sự tác động, ảnh hưởng qua lại của cách mạng Trung Quốc đối cuộc cách mạng của Việt Nam, chính vì vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm niệm và dày công vun đắp lịch sử hợp tác, tình hữu nghị vững bền Việt Nam – Trung Quốc.

Còn nhớ, ngay sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bức điện quan trọng gửi Chủ tịch Mao Trạch Đông, nhấn mạnh: “Hai dân tộc Việt - Hoa có mối quan hệ anh em trải qua mấy nghìn năm lịch sử. Từ đây, mối quan hệ ấy sẽ càng mật thiết để phát triển tự do và hạnh phúc của hai dân tộc ta, và để bảo vệ dân chủ thế giới và hòa bình lâu dài”.

anh9.png
Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay ở Bắc Kinh ngày 25/6/1955. Ảnh tư liệu.

Năm 1949, khi cách mạng Trung Quốc giành được thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cách mạng Trung Quốc giành thắng lợi và việc thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử loài người tiếp theo Cách mạng Tháng Mười Nga”. Ngày 15/1/1950, Việt Nam là một trong những nước đầu tiên tuyên bố công nhận nước Cộng hòa dân nhân Trung Hoa.

Về phía Trung Quốc, cũng luôn giành cho Việt Nam những tình cảm và sự giúp đỡ quý báu. Ngày 18/1/1950, sau khi được thành lập không lâu, nước CHND Trung Hoa là quốc gia đầu tiên trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ trường kỳ và gian khổ của dân tộc Việt Nam, Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc đã dành cho Việt Nam sự giúp đỡ, viện trợ to lớn cả về nhân lực và vật lực.

Năm 2024 vừa qua, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, tại thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng phối hợp Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc tổ chức gặp mặt các cựu chiến binh, chuyên gia Trung Quốc đã tham gia giúp cách mạng Việt Nam, nhằm bày tỏ sự tri ân, thể hiện truyền thống tốt đẹp "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam đối với những người bạn, đồng chí Trung Quốc đã cống hiến mồ hôi, xương máu và tuổi thanh xuân cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của quân đội và nhân dân Việt Nam.

Tại cuộc gặp mặt này, nhiều cựu binh, như ông Trương Văn Bân, một cựu chiến binh Trung Quốc từng giúp Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ đã bày tỏ sự xúc động khi hai nước có tình hữu nghị truyền thống lâu đời, kết tình hữu nghị sâu đậm trong cuộc đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Mao Trạch Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo tiền bối của hai nước đã vun đắp tình hữu nghị truyền thống Trung-Việt. Chủ tịch Mao Trạch Đông từng nói: 700 triệu người dân Trung Quốc là hậu thuẫn vững chắc của nhân dân Việt Nam, Trung Quốc bao la là hậu phương tin cậy của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dùng câu thơ "Mối tình thắm thiết Việt-Hoa/Vừa là đồng chí, vừa là anh em" để ca ngợi tình hữu nghị giữa hai nước.

Những bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện và vượt bậc trên nhiều lĩnh vực

anh8.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình, ngày 19/8/2024 _Ảnh: TTXVN

Từ sự gây dựng và dày công vun đắp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng các thế hệ lãnh đạo tiền bối, tình hữu nghị truyền thống Việt – Trung không ngừng được củng cố, phát triển. Như nhìn nhận của Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước CHXHCN Việt Nam tại nước CHND Trung Hoa Phạm Thanh Bình: Trong chặng đường 75 năm phát triển, quan hệ hai nước tuy có lúc thăng trầm, nhưng hữu nghị và hợp tác vẫn là dòng chảy chính, hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước đã kề vai sát cánh, dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn và quý báu, góp phần vào thành công của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước của mỗi nước. Tình hữu nghị “vừa là đồng chí, vừa là anh em” do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông cùng nhiều thế hệ lãnh đạo hai nước dày công vun đắp, đã trở thành tài sản quý báu của cả hai dân tộc.

Còn Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hà Vĩ, trong tiệc chiêu đãi kỷ niệm 75 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Trung Quốc - Việt Nam, từng chia sẻ rằng, có hai “thời kỳ vàng” trong quan hệ hai nước. Thời kỳ vàng đầu tiên là tình hữu nghị truyền thống “vừa là đồng chí, vừa là anh em” đã đặt “gốc rễ” cho sự ra đời và phát triển của quan hệ hai nước. Thời kỳ vàng thứ hai là “Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam-Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược” đã tạo thêm động lực mới cho hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam thời đại mới.

anh10.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình. Ảnh: Trí Dũng/TTXVN

Đặc biệt là từ sau khi bình thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ hai Đảng, hai nước không ngừng được thúc đẩy phát triển lên tầm cao mới, đạt được rất nhiều thành tựu và dấu ấn quan trọng: Hai bên đã xác định phát triển quan hệ hai nước theo phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” (năm 1999) và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” (năm 2005); nhất trí thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc (năm 2008) – khuôn khổ hợp tác cao nhất trong quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới. Đặc biệt là, tiếp sau chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (10-2022), trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (12-2023), hai bên nhất trí tiếp tục làm sâu sắc và nâng tầm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, đưa ra 6 phương hướng hợp tác lớn thúc đẩy quan hệ Việt - Trung bước sang giai đoạn phát triển mới, toàn diện và bền vững, bao gồm: Tin cậy chính trị cao hơn, hợp tác quốc phòng, an ninh thực chất hơn, hợp tác thực chất sâu sắc hơn, nền tảng xã hội vững chắc hơn, phối hợp đa phương chặt chẽ hơn, bất đồng được kiểm soát, giải quyết tốt hơn, vì hạnh phúc của nhân dân hai nước, vì sự nghiệp hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

Trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc rất thành công của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (8-2024), lãnh đạo hai nước tiếp tục khẳng định việc phát triển quan hệ song phương là sự ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mỗi nước, nhất trí tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc theo định hướng "6 hơn", tiếp thêm động lực duy trì đà phát triển tích cực của quan hệ hai nước, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ đến các cấp, các ngành, hình thành không khí hợp tác sôi động, hiệu quả, thiết thực và đạt nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.

Vun đắp quan hệ Việt Nam-Trung Quốc phát triển ổn định, vững bền

Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (12/2023), của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (8/2024) đã tiếp tục tạo nền tảng vững chắc và định hướng lâu dài cho quan hệ song phương bước vào giai đoạn phát triển mới.

Và ngày hôm nay, nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lương Cường, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam (từ 14- 15/4/2025).

Đây là chuyến thăm cấp Nhà nước lần thứ tư của đồng chí Tập Cận Bình đến Việt Nam trên cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc, là chuyến thăm thứ 2 trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng ta và Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chuyến thăm diễn ra trong thời gian chưa đầy một năm sau chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc rất thành công của Tổng Bí thư Tô Lâm. Chuyến thăm càng thêm ý nghĩa khi được tiến hành trong Năm giao lưu nhân văn Việt Nam-Trung Quốc, kỷ niệm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước (1950-2025).

anh13.jpg
Chuyến tàu liên vận quốc tế vận chuyển hàng nông sản xuất khẩu từ Sóng Thần, Bình Dương, Việt Nam đến Trịnh Châu, Hà Nam, Trung Quốc. Ảnh: Huyền Trang/TTXVN

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ có các cuộc hội đàm, hội kiến quan trọng với Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn. Dự kiến các bộ, ngành, cơ quan, địa phương hai bên sẽ ký kết khoảng 40 văn kiện hợp tác trên hàng loạt lĩnh vực, tạo cơ sở quan trọng để triển khai hợp tác hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới.

Trước thềm chuyến thăm, tại cuộc họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao ngày 11/4, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lâm Kiếm cho biết, chuyến thăm lần này diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Việt Nam, có ý nghĩa to lớn đối với mối quan hệ giữa hai nước. Phía Trung Quốc mong đợi cùng Việt Nam coi chuyến thăm là cơ hội để củng cố tình hữu nghị truyền thống “vừa là đồng chí, vừa là anh em” Trung-Việt; tăng cường tin cậy chiến lược lẫn nhau, làm sâu sắc hợp tác thực chất, thúc đẩy xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam-Trung Quốc đi vào chiều sâu, thực chất.

anh15.jpg
Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường tham dự Tọa đàm doanh nghiệp Việt Nam - Trung Quốc. Ảnh: Dương Giang/TTXVN

Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Phạm Thanh Bình thì nhận định, chuyến thăm là dịp để lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước tiếp tục đi sâu trao đổi chiến lược, đánh giá về quan hệ giữa hai Đảng, hai nước, đặc biệt là kết quả đạt được trong việc thực hiện những thỏa thuận chung cấp cao, xác định các phương hướng, biện pháp lớn thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước Việt Nam-Trung Quốc phát triển ổn định, thực chất và hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Tổng Thư ký Trung tâm Trung Quốc-ASEAN Sử Trung Tuấn cũng khẳng định tin tưởng thông qua chuyến thăm này, các nhà lãnh đạo cấp cao của hai nước từ tầm nhìn chiến lược cấp cao và lâu dài sẽ đưa ra những định hướng mới cho sự phát triển quan hệ Đối tác Hợp tác Chiến lược Toàn diện Trung Quốc-Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo; củng cố tình hữu nghị truyền thống giữa Trung Quốc và Việt Nam, tăng cường tin cậy chiến lược lẫn nhau, tập trung vào các lĩnh vực và phương hướng then chốt để xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai Trung-Việt có ý nghĩa chiến lược; thúc đẩy quan hệ giữa hai Đảng và hai nước lên tầm cao mới, cùng nhau thúc đẩy sự ổn định và thịnh vượng của khu vực cũng như sự phát triển hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

Xem thêm

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: