Chiều 5/8, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư.
Quan tâm góp ý vào quy định chuyển tiếp, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng) băn khoăn: nếu quy định cấm có hiệu lực ngay mà chưa có hướng dẫn về nhận diện hành vi vi phạm, xác định mục đích sử dụng, trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi cung ứng, xử lý hàng hóa tồn kho và phối hợp giữa công an, quản lý thị trường, y tế, công thương, thì dễ phát sinh lúng túng và áp dụng không thống nhất.
Từ phân tích trên, nữ đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng đề nghị, cần chuẩn bị đồng thời văn bản hướng dẫn về khí N₂O, làm rõ phạm vi cấm, các trường hợp sử dụng hợp pháp được loại trừ, chứng từ chứng minh mục đích sử dụng, trách nhiệm của người bán và người mua, cũng như mối quan hệ với pháp luật hóa chất, an toàn thực phẩm và xử lý vi phạm.
Đối với các ngành, nghề được bãi bỏ điều kiện kinh doanh, cần quy định rõ việc xử lý giấy phép có thời hạn, giấy phép không xác định thời hạn, hồ sơ đang được giải quyết, phí và lệ phí đã nộp, cũng như các cuộc thanh tra, kiểm tra và vụ việc vi phạm đang được xử lý. Đối với doanh nghiệp dịch vụ thị thực đang hoạt động, phải có thời hạn chuyển tiếp hợp lý để đáp ứng điều kiện mới, nhưng không được biến quy định chuyển tiếp thành cơ chế hợp thức hóa các hành vi vi phạm đã xảy ra.
Quan tâm đến điều kiện bảo đảm thi hành và các dự thảo văn bản hướng dẫn trong hồ sơ dự án luật, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị hoàn thiện đầy đủ các văn bản thi hành trước khi Luật có hiệu lực.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho biết, dự thảo Luật đưa 58 ngành, nghề ra khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Nhiều ngành, nghề sẽ chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, hoặc quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và pháp luật chuyên ngành. Đây là thay đổi rất lớn về phương thức quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, hồ sơ dự án luật chưa làm rõ đầy đủ hiệu quả, tính khả thi của cơ chế hậu kiểm; chưa thể hiện cụ thể hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, cơ sở dữ liệu, nguồn nhân lực thanh tra, kiểm tra và chế tài xử lý vi phạm thay thế. Nếu bỏ điều kiện cũ trong khi công cụ quản lý mới chưa sẵn sàng, có thể phát sinh khoảng trống quản lý. Ngược lại, nếu dưới danh nghĩa tiêu chuẩn, quy chuẩn mà tiếp tục đặt ra những yêu cầu bắt buộc tương tự điều kiện gia nhập thị trường thì sẽ hình thành điều kiện kinh doanh khác.
Vì vậy, đại biểu đề nghị xây dựng một bảng kế hoạch thi hành cụ thể đối với từng ngành, nghề, trong đó cần rõ năm vấn đề: điều kiện nào thực sự được bãi bỏ; văn bản nào phải sửa đổi; công cụ quản lý thay thế là gì; cơ quan nào chịu trách nhiệm hậu kiểm; và thời điểm công cụ mới bắt đầu vận hành. Việc chuẩn bị văn bản hướng dẫn đầy đủ sẽ giúp luật sớm đi vào cuộc sống khi được thông qua.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cũng đề nghị rà soát kỹ dự thảo Nghị định về cơ sở được ủy quyền cung cấp dịch vụ thị thực. Theo đại biểu, những yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân, đặc biệt là dữ liệu sinh trắc học, là vô cùng cần thiết, nhưng dự thảo Nghị định cần tiếp tục làm rõ khái niệm “được ủy quyền”: chủ thể nào có quyền ủy quyền; căn cứ chứng minh việc ủy quyền; phạm vi, thời hạn ủy quyền; trường hợp cơ quan ngoại giao nước ngoài thay đổi đơn vị cung cấp dịch vụ thì xử lý như thế nào. Nếu không làm rõ, sẽ khó xác định chính xác đối tượng phải thực hiện điều kiện kinh doanh.
Hơn nữa, điều kiện “đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam về an ninh mạng và hệ thống thông tin” còn khá chung. Cần chỉ rõ tiêu chuẩn hoặc nhóm tiêu chuẩn áp dụng; cơ quan đánh giá; hình thức chứng minh; chu kỳ đánh giá lại.
Đặc biệt, dự thảo quy định doanh nghiệp phải “được cấp chứng chỉ xử lý dữ liệu cá nhân”, nhưng chưa làm rõ chứng chỉ này do cơ quan nào cấp, điều kiện, hồ sơ, thời hạn và cơ chế thu hồi ra sao. Nếu đây là một thủ tục hành chính mới thì phải được đánh giá đầy đủ về sự cần thiết, chi phí tuân thủ và căn cứ pháp lý.