Hà Nội trước cơ hội tái thiết lịch sử: Không thể phát triển tương lai bằng tư duy đô thị của quá khứ

Sau 18 năm mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội đã hình thành một không gian phát triển rộng lớn, khẳng định vị thế trung tâm đầu não chính trị - hành chính, kinh tế, văn hóa của đất nước.

Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, Thủ đô đang đối diện với những giới hạn của mô hình phát triển đô thị cũ. Ùn tắc giao thông, quá tải hạ tầng, những khu dân cư xuống cấp, những quy hoạch kéo dài nhiều năm chưa thể thực hiện đang đặt ra yêu cầu cấp thiết: Hà Nội cần một cuộc chuyển mình mạnh mẽ hơn, không chỉ để giải quyết những tồn tại hôm nay mà còn để kiến tạo diện mạo Thủ đô cho các thế hệ mai sau.

Từ bước ngoặt mở rộng địa giới đến đòi hỏi một bước ngoặt mới

Ngày 1-8-2008, việc mở rộng địa giới hành chính chính thức được triển khai theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII, đưa diện tích tự nhiên của Hà Nội lên 334.470,02ha, tương đương khoảng 3.344,7km². Không chỉ mở rộng quy mô địa lý, quyết định mang tầm chiến lược này còn tạo điều kiện để Thủ đô tổ chức lại không gian phát triển, kết nối khu vực đô thị trung tâm với các vùng ngoại thành, các đô thị vệ tinh và những hành lang kinh tế mới.

hanoi-272.jpg
hanoi-4894.jpg
hanoi.jpg
Sau gần hai thập niên, diện mạo Hà Nội đã có những thay đổi sâu sắc. Ảnh: Quang Thái

Sau gần hai thập niên, diện mạo Hà Nội đã có những thay đổi sâu sắc. Từ một đô thị có không gian phát triển tương đối hạn hẹp, Hà Nội có điều kiện tổ chức lại các khu vực đô thị, công nghiệp, dịch vụ, hạ tầng giao thông và những vùng sinh thái rộng lớn. Những tuyến đường mới, những khu đô thị hiện đại, những cây cầu vượt sông và các công trình hạ tầng quan trọng đã từng bước làm thay đổi diện mạo Thủ đô.

Không thể phủ nhận những thành tựu to lớn ấy.

Nhưng phát triển đô thị không phải là một hành trình chỉ có những con đường rộng hơn, những tòa nhà cao hơn hay những khu dân cư mới mọc lên.

Thước đo cuối cùng của một đô thị hiện đại phải là chất lượng sống của người dân, hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng phát triển bền vững.

Nhìn từ thước đo ấy, Hà Nội vẫn còn không ít vấn đề cần giải quyết.

Có những khu vực đô thị phát triển nhanh về nhà ở nhưng hạ tầng giao thông, trường học, bệnh viện và không gian công cộng chưa theo kịp. Có những khu dân cư tồn tại nhiều bất cập về môi trường, hệ thống thoát nước và phòng cháy, chữa cháy. Có những khu đất nằm trong quy hoạch kéo dài nhiều năm, khiến nguồn lực không được khai thác hiệu quả, cuộc sống của người dân chịu nhiều ảnh hưởng.

Những bất cập ấy không chỉ làm giảm chất lượng sống mà còn tạo ra những chi phí phát triển ngày càng lớn cho toàn xã hội.

Điều đáng suy nghĩ là nhiều vấn đề không thể giải quyết triệt để bằng những giải pháp đơn lẻ.

Mở rộng một tuyến đường có thể giảm ùn tắc tại một vị trí, nhưng chưa chắc giải quyết được áp lực giao thông của cả khu vực. Xây dựng thêm những tòa chung cư có thể đáp ứng nhu cầu nhà ở, nhưng nếu thiếu trường học, công viên, giao thông công cộng, lại có thể tạo thêm những điểm quá tải mới.

Hà Nội vì thế không thể chỉ tiếp tục mở rộng đô thị, mà cần tổ chức lại đô thị một cách khoa học, đồng bộ và có tầm nhìn dài hạn.

Đó chính là sự khác biệt căn bản giữa phát triển theo chiều rộng và tái thiết để nâng cao chất lượng phát triển.

thi-cong-1549.jpg
thi-cong.jpg
Thi công cầu Trần Hưng Đạo. Ảnh: Quang Thái

Tái thiết không phải là phá bỏ quá khứ

Khi nói đến tái thiết đô thị, điều đầu tiên cần được nhận thức đầy đủ là tái thiết không đồng nghĩa với việc phá bỏ những gì đang tồn tại để xây dựng những công trình mới.

Một đô thị có chiều sâu lịch sử hơn nghìn năm như Hà Nội càng không thể phát triển bằng cách đánh đổi những giá trị đã làm nên bản sắc của mình.

Hà Nội cần những không gian hiện đại, nhưng cũng cần gìn giữ ký ức đô thị. Cần những tuyến giao thông lớn, nhưng cũng cần bảo vệ không gian văn hóa, cảnh quan và môi trường. Cần những trung tâm kinh tế năng động, nhưng không thể thiếu những khu dân cư đáng sống, những trường học, bệnh viện và công viên gần gũi với người dân.

Tái thiết đúng nghĩa phải là quá trình giải quyết đồng thời ba yêu cầu: Khắc phục những bất cập đã tích tụ, sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có và tạo lập không gian phát triển mới.

Đây không chỉ là bài toán kiến trúc hay xây dựng, mà còn là bài toán về quản trị đô thị, cơ chế chính sách, tổ chức nguồn lực và sự đồng thuận xã hội. Bởi một đô thị hiện đại không thể được hình thành chỉ từ những bản vẽ đẹp. Đô thị ấy phải được hình thành từ những quyết sách đúng, cách tổ chức thực hiện hiệu quả và sự tham gia thực chất của người dân.

Cơ hội không tự biến thành hiện thực

Hà Nội đang đứng trước những điều kiện mới để xem xét các giải pháp tái thiết đô thị ở quy mô lớn hơn, đồng bộ hơn.

Các định hướng quy hoạch dài hạn, việc hoàn thiện thể chế phát triển Thủ đô, cùng những chương trình đầu tư hạ tầng giao thông và chỉnh trang đô thị mở ra khả năng tổ chức lại không gian phát triển. Nhưng cần nhìn nhận một cách khách quan rằng, cơ chế thuận lợi mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là năng lực biến chủ trương thành những công trình, dịch vụ và thay đổi cụ thể trong đời sống.

Một dự án tái thiết chỉ có ý nghĩa khi những vấn đề tồn tại của khu vực được giải quyết thực chất. Một khu đô thị mới chỉ có giá trị bền vững khi người dân được tiếp cận hạ tầng xã hội tốt hơn. Một tuyến đường sắt đô thị chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi kết nối thuận tiện với nơi ở, nơi làm việc và các dịch vụ thiết yếu.

Đặc biệt, quá trình tái thiết phải xử lý hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Nhà nước cần bảo đảm lợi ích công cộng và sự phát triển bền vững. Doanh nghiệp cần có môi trường đầu tư minh bạch, khả thi. Người dân phải được tiếp cận đầy đủ thông tin, được tham gia ý kiến và được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.

Không thể có một cuộc tái thiết thành công nếu những người chịu tác động trực tiếp lại không nhìn thấy tương lai tốt đẹp hơn cho chính mình.

Từ tầm nhìn lớn đến những thay đổi có thể cảm nhận

Người dân không đánh giá sự phát triển của Thủ đô chỉ bằng quy mô vốn đầu tư hay số lượng dự án.

Điều họ mong đợi là những thay đổi gần gũi và thiết thực: Đi lại thuận tiện hơn, môi trường trong lành hơn, con em được học tập trong những ngôi trường tốt hơn, người cao tuổi có không gian sinh hoạt, các gia đình được sống trong những khu dân cư an toàn và văn minh. Bởi vậy, mọi chương trình tái thiết cần được đặt trước một câu hỏi căn bản: Sau khi dự án hoàn thành, cuộc sống của người dân sẽ tốt hơn như thế nào?

Câu hỏi tưởng chừng giản dị ấy phải trở thành tiêu chí xuyên suốt từ khâu lập quy hoạch, lựa chọn dự án, tổ chức đầu tư đến đánh giá hiệu quả. Tái thiết đô thị không thể chỉ hướng tới sự thay đổi về hình thức. Quan trọng hơn, phải tạo ra sự thay đổi về chất lượng sống và chất lượng quản trị.

Một Hà Nội phát triển bền vững không phải là thành phố không ngừng mở rộng bằng mọi giá, mà là thành phố biết sử dụng hiệu quả từng tấc đất, từng nguồn lực đầu tư và từng cơ hội phát triển.

cham-soc-suc-khoe-4098.jpg
cham-soc-suc-khoe.jpg
cham-soc-suc-khoe-3411.jpg
Cơ sở chăm sóc sức khỏe ban ngày cho người cao tuổi tại phường Long Biên. Ảnh: Quang Thái

Trách nhiệm với tương lai Thủ đô

Mười tám năm trước, Hà Nội đã có một bước ngoặt lịch sử về không gian phát triển. Hôm nay, Thủ đô đang đứng trước yêu cầu tạo ra một bước ngoặt mới về chất lượng phát triển.

Nếu mở rộng địa giới năm 2008 tạo thêm không gian cho Hà Nội, thì tái thiết đô thị trong giai đoạn tới phải hướng tới tạo thêm giá trị cho không gian ấy. Đây là một nhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi nguồn lực rất lớn, tư duy đổi mới và sự kiên trì trong tổ chức thực hiện. Nhưng khó khăn không thể là lý do để trì hoãn những vấn đề đã đến lúc phải giải quyết. Càng chậm khắc phục những bất cập của đô thị, chi phí kinh tế và xã hội có thể càng lớn. Ngược lại, mỗi quyết sách đúng hôm nay có thể tạo ra giá trị phát triển trong nhiều thập kỷ.

Hà Nội cần phát triển nhanh hơn, nhưng không thể đánh đổi chất lượng sống để chạy theo tốc độ. Đồng thời, cần hiện đại hơn, nhưng không thể xóa nhòa bản sắc. Cùng với đó là huy động nguồn lực lớn, nhưng phải bảo đảm công khai, minh bạch và hiệu quả. Thành công của tái thiết không nằm ở số công trình mới được xây dựng, mà ở số vấn đề cũ được giải quyết, số cơ hội phát triển được mở ra và những giá trị bền vững được trao lại cho các thế hệ mai sau.

Một cuộc tái thiết thực sự thành công không được đo bằng bao nhiêu công trình mới được xây dựng, mà bằng bao nhiêu bất cập cũ được giải quyết và bao nhiêu giá trị mới được tạo ra cho cộng đồng. Đó mới là bước ngoặt xứng tầm với một Thủ đô nghìn năm văn hiến: Không chỉ mở rộng không gian để phát triển, mà còn tái tạo giá trị cho từng không gian, để Hà Nội trở thành nơi đáng sống hơn đối với mỗi người dân.

Và đó cũng chính là trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với một Thủ đô nghìn năm văn hiến và đối với tương lai của thế hệ mai sau.

Xem thêm

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: