“Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam”

Kỳ vọng xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ

(NB&CL) Bộ VHTTDL vừa ra mắt “Mạng lưới phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam” và công bố 17 sáng kiến phát triển ngành năm 2026. Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.

Kết nối nguồn lực, thúc đẩy

Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa ngày càng được xác định là động lực tăng trưởng mới, việc kết nối nguồn lực Nhà nước với cộng đồng doanh nghiệp được kỳ vọng mở rộng cơ hội đầu tư, thúc đẩy sáng tạo và nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa Việt Nam. Việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố Mạng lưới Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam đang được kỳ vọng trở thành cầu nối để người có ý tưởng gặp gỡ những người có công nghệ, vốn và thị trường; kết nối doanh nghiệp với nghệ sĩ, nhà trường và các thiết chế văn hóa nhằm phát triển những sản phẩm mà từng đơn vị khó có thể thực hiện riêng lẻ. Quan trọng hơn, các định hướng cần được chuyển thành hành động cụ thể, gắn với sản phẩm, đơn vị chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành. Ngay trong năm 2026, các nhóm hợp tác cần hướng tới việc đưa sản phẩm ra thị trường, tạo doanh thu cho doanh nghiệp, thu nhập cho người sáng tạo và mở rộng cơ hội thụ hưởng văn hóa của người dân.

Việc ra mắt Mạng lưới và công bố các sáng kiến nằm trong định hướng huy động nguồn lực xã hội, tạo môi trường và động lực phát triển mới cho công nghiệp văn hóa Việt Nam. Mục tiêu đóng góp tối thiểu 7% GDP vào năm 2030 đặt ra yêu cầu vừa hoàn thiện cơ chế, chính sách, vừa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thương hiệu. Trong đó, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo thêm cơ sở pháp lý cho ngành phát triển bền vững.

Mạng lưới được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối các nguồn lực, chia sẻ cơ hội hợp tác và thúc đẩy những sáng kiến mới, góp phần đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các định hướng thành chương trình hợp tác cụ thể, đưa ý tưởng thành sản phẩm có giá trị và tạo chỗ đứng trên thị trường trong nước, quốc tế.

104.jpg
Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Hoàn thiện thể chế, hình thành hệ sinh thái sáng tạo phát triển công nghiệp văn hóa

Trong chiến lược phát triển bền vững đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, đồng thời là nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành các giá trị kinh tế thực chất trong kỷ nguyên số, việc hoàn thiện thể chế và xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ là yêu cầu cấp thiết.

Từ năm 2026, Nhà nước cam kết bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn, hướng tới mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp tối thiểu 7% GDP vào năm 2030. Nhằm khơi thông nguồn lực và tạo hành lang pháp lý đột phá, Bộ VHTTDL đang hoàn thiện dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, dự kiến trình Quốc hội xem xét trong tháng 10/2026.

Trong dự thảo Luật, thể chế được xem là khung xương; trong khi đó, hệ sinh thái sáng tạo được xem là môi trường sống, là mạng lưới kết nối các chủ thể để tạo nên một nền công nghiệp văn hóa năng động. Một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa toàn diện bao gồm sự liên kết chặt chẽ giữa các cá nhân sáng tạo, doanh nghiệp, các định chế tài chính, cơ sở đào tạo và cơ quan nhà nước.

images.jpg

Theo Dự thảo, Nhà nước ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của các công đoạn trong chuỗi giá trị và hoạt động hỗ trợ chuỗi giá trị công nghiệp văn hoá theo quy định của pháp luật, ưu tiên các hoạt động phát triển hạ tầng, nhân lực, tài sản trí tuệ và thúc đẩy hình thành sản phẩm công nghiệp văn hoá trọng điểm, mang bản sắc văn hoá Việt Nam, có giá trị kinh tế và giá trị xã hội, có khả năng xuất khẩu.

Nhà nước cũng ưu tiên bố trí vốn ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển, vận hành hạ tầng công nghiệp văn hoá có tính chất chiến lược, liên vùng, có khả năng lan toả, hình thành hệ sinh thái sáng tạo, tạo động lực phát triển các ngành công nghiệp văn hoá; công trình hạ tầng công nghiệp văn hoá quốc gia; tổ hợp sáng tạo văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hoá; hạ tầng văn hoá số.

“Khuyến khích huy động mọi nguồn lực hợp pháp để đầu tư phát triển hạ tầng công nghiệp văn hoá, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt, khu vực tư nhân, cộng đồng và hợp tác công tư tham gia đầu tư, quản lý, vận hành, khai thác hạ tầng”, dự thảo Luật phát triển công nghiệp văn hóa nêu rõ.

1-mims.jpg

Cùng với vai trò quan trọng của đầu tư vào hạ tầng số, dự thảo Luật cũng xác định dữ liệu là “trục xương sống” của hệ sinh thái. Để hệ sinh thái vận hành trơn tru, việc đầu tư vào hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng văn hóa số là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu.

Do đó, dự thảo Luật quy định việc xây dựng Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia - môi trường lưu trữ và chia sẻ dữ liệu dùng chung về di sản, nghệ thuật phải được số hóa. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối liên thông, các nhà sáng tạo nội dung có thể dễ dàng khai thác “nguyên liệu” từ kho tàng văn hóa dân tộc để tạo ra những sản phẩm mới mang đậm bản sắc Việt Nam nhưng vẫn phù hợp với thị hiếu quốc tế.

Bên cạnh đó, việc hình thành các tổ hợp sáng tạo văn hóa và cụm công nghiệp sáng tạo cũng được đẩy mạnh. Đây là những không gian hội tụ các doanh nghiệp, studio, nhà hát, bảo tàng... không chỉ để sản xuất mà còn để tạo ra môi trường tương tác, thúc đẩy cộng hưởng sáng tạo và giảm chi phí vận hành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

8-chot.jpg

Ngoài ra, thể chế mới đặt mục tiêu phát triển nguồn nhân lực – trung tâm của hệ sinh thái, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố quyết định tính cạnh tranh của ngành công nghiệp văn hóa - thông qua việc đổi mới giáo dục nghệ thuật ngay từ cấp phổ thông và đào tạo liên ngành gắn với công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) ở bậc đại học.

Đặc biệt, dự thảo Luật đề xuất những chính sách trọng dụng nhân tài vượt trội như: ưu đãi thuế thu nhập cá nhân; đặc cách tuyển dụng, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo trong khu vực công đối với nhân lực chất lượng cao; và cấp thẻ tạm trú dài hạn cho các chuyên gia, nghệ sĩ nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam. Việc hình thành mạng lưới chuyên gia và các chương trình học bổng tài năng đỉnh cao được kỳ vọng sẽ tạo ra những “đầu tàu” dẫn dắt thị trường vươn ra toàn cầu.

Đáng chú ý, để kích cầu tiêu dùng văn hóa, dự thảo Luật đưa ra sáng kiến phát hành Thẻ văn hóa quốc gia dưới dạng điện tử để hỗ trợ chi phí tiếp cận các sản phẩm văn hóa Việt Nam cho học sinh, sinh viên và các đối tượng chính sách.

Đồng thời, việc hình thành các sàn giao dịch công nghiệp văn hóa sẽ giúp minh bạch hóa các giao dịch mua bán, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ và sản phẩm văn hóa. Kết hợp với các chương trình quảng bá Thương hiệu công nghiệp văn hóa quốc gia, Việt Nam sẽ định vị rõ nét hơn “sức mạnh mềm” của mình trên bản đồ văn hóa thế giới.

anhtrai2-2048x1365.jpg

Có thể thấy, việc hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo và hình thành hệ sinh thái sáng tạo đồng bộ là hai mặt của một quá trình thúc đẩy công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Với tầm nhìn đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP và năm 2045 đóng góp 9% GDP, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là một văn bản pháp lý mà là bản thiết kế chiến lược cho tương lai văn hóa Việt Nam. Khi nguồn lực từ di sản được khơi thông bởi thể chế hiện đại và nuôi dưỡng bởi một hệ sinh thái năng động, công nghiệp văn hóa sẽ thực sự trở thành trụ cột cho sự phát triển bền vững và giàu mạnh của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp văn hóa và Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho hay, mục tiêu của Ban soạn thảo dự thảo dự án Luật là giúp các sản phẩm sáng tạo của Việt Nam được nhìn nhận, định giá chuẩn xác đúng để tạo ra doanh thu, góp phần khơi thông nguồn lực đầu tư văn hóa. Đặc biệt, xác định doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt trong đầu tư phát triển công nghiệp văn hóa, Nhà nước sẽ đóng vai trò đầu mối hỗ trợ. Luật sẽ đưa ra các cơ chế thành lập các cụm, khu, tổ hợp sáng tạo công nghiệp văn hóa nhằm thu hút dòng vốn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Trong quý IV năm 2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã xác định tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo nền tảng cho sự phát triển của ngành. Trọng tâm là phối hợp với các Ủy ban của Quốc hội rà soát, chỉnh lý, tiếp thu, hoàn thiện các Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Du lịch, Luật Thể dục, thể thao, Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh, Luật Thư viện, Luật Quảng cáo, Luật Báo chí; đồng thời tiếp tục hoàn thiện dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa để báo cáo Chính phủ, trình Quốc hội xem xét.

Xem thêm

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

Quy định 220-QĐ/TW: Khi người dám làm được trao cơ hội để cống hiến

(NB&CL) Khi nhiều vấn đề mới không thể giải quyết bằng những cách làm cũ, người cán bộ không chỉ cần năng lực và ý tưởng, mà còn cần một môi trường đủ tin cậy để dám quyết định, dám chịu trách nhiệm và được đánh giá công bằng. Quy định 220-QĐ/TW vì thế không chỉ đặt ra cơ chế bảo vệ người dám làm, mà còn gợi mở một yêu cầu lớn hơn, phải biết phát hiện, giao việc, trao quyền và sử dụng đúng những người có năng lực để họ thực sự tạo ra giá trị.

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

17 Chủ tịch xã ở Quảng Ngãi và câu chuyện 'có mặt' với trách nhiệm

(CLO) Một cuộc họp có thể chỉ kéo dài vài giờ. Nhưng cách một cán bộ tham dự, lắng nghe và xử lý công việc sau đó lại có thể nói nhiều điều về trách nhiệm công vụ. Câu chuyện 17 Chủ tịch UBND xã ở Quảng Ngãi bị phê bình vì không nghiêm túc trong việc tham dự một hội nghị vì thế đáng để nhìn rộng hơn: Có mặt trong một cuộc họp liệu đã đồng nghĩa với có mặt trong công việc?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

Làn sóng phim ngắn AI lan tràn trên mạng xã hội - Quản thế nào?

(NB&CL) Nội dung giật gân, những tập phim nối tiếp và lời mời trả phí có thể cuốn người xem vào hàng giờ giải trí, tiêu tiền ngoài dự tính. Rủi ro càng đáng quan tâm khi trẻ em tiếp cận nội dung không phù hợp độ tuổi. Phim ngắn AI đang đặt Việt Nam trước bài toán quản lý cả nội dung, nền tảng phân phối và dòng tiền. Sự phát triển của phim ngắn AI đòi hỏi cách quản lý phù hợp với tốc độ sản xuất và thói quen xem phim trên điện thoại. 

Việc triển khai cấp phát miễn phí SGK cho học sinh phổ thông toàn thành phố không chỉ khẳng định triết lý “lấy con người làm trung tâm” mà còn là bước đột phá lớn để bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Ảnh Sở GD&ĐT.

Bài 3: Lấy con người làm trung tâm - “Trái tim” của sự phát triển bền vững

(CLO) Không nằm ở những con số tăng trưởng mang tính định lượng khô khan hay các siêu dự án tỷ USD, thước đo nhân văn và sắc nét nhất cho sự bứt phá của Thành phố Quảng Ninh chính là việc định hình lại tiêu chuẩn sống, biến mỗi người dân thành trung tâm thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển.

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Cỡ chữ bài viết: