Kịch bản tăng trưởng nào cho Việt Nam vươn tầm?

(NB&CL) Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, đạt hai con số và bền vững đến năm 2045 là một thách thức lớn nhưng cũng là cơ hội vàng để Việt Nam vươn tầm. Nhưng chọn kịch bản nào, con đường nào để đạt được mục tiêu và khát vọng là vấn đề cần được quan tâm hơn cả, bởi nếu chọn sai kịch bản, nền kinh tế có thể rơi vào “sốc tăng trưởng”, mất cân đối vĩ mô và tụt lại phía sau.

Từ bản Tuyên ngôn độc lập đến khát vọng thịnh vượng

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau 80 năm, Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ: từ một quốc gia nghèo đói, chiến tranh, đã vươn lên nhóm thu nhập trung bình, trở thành nền kinh tế có quy mô gần 500 tỷ USD, là một trong những trung tâm sản xuất và xuất khẩu hàng đầu khu vực. Dự kiến năm 2025 sẽ đạt ngưỡng thu nhập trung bình cao.

Khát vọng mới của dân tộc đã được xác lập rõ ràng: bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đây không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà là lời hứa với tương lai của dân tộc.

bencang.jpg
Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng mạnh trong nhiều năm liên tục, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Ảnh: H.Anh

Tăng trưởng cao chỉ có ý nghĩa khi đi kèm với nền tảng vững chắc, cải cách thể chế và năng lực điều hành tương thích. Nếu không, Việt Nam sẽ đối mặt với “sốc tăng trưởng” - tức là tăng trưởng nhanh nhưng thiếu bền vững, dễ dẫn đến khủng hoảng. Tăng trưởng cao chỉ bền vững khi đi kèm với cải cách thể chế, nâng cao năng suất lao động và kiểm soát vĩ mô chặt chẽ. Tăng trưởng hai con số chỉ có ý nghĩa khi nền kinh tế có khả năng chống chịu cao, thể chế đủ năng lực điều hành, và chính sách tài khóa - tiền tệ phối hợp nhịp nhàng. Và để tăng trưởng cao, trước hết phải đảm bảo ổn định vĩ mô, tăng khả năng độc lập tự chủ và quản trị rủi ro trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động khó lường.

Để hiện thực hóa khát vọng, Việt Nam cần đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 10 năm tới. Đây là giai đoạn bản lề để tích lũy tiềm lực, nâng cao thu nhập bình quân đầu người và tạo nền móng cho sự thịnh vượng lâu dài. Tăng trưởng cao sẽ giúp thu hẹp khoảng cách phát triển với các quốc gia tiên tiến, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho sự chuyển đổi mô hình kinh tế. Nhưng làm thế nào để tăng trưởng cao, làm thế nào để đạt mục tiêu và khát vọng. Mục tiêu thì cao trong khi đất nước còn nhiều thách thức về thể chế, nguồn lực, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, khoa học - công nghệ. Vậy đâu là con đường hiện thực hóa mục tiêu.

Khởi động nhanh hay chọn sóng?

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, GS.TS. Trần Thị Vân Hoa và nhóm nghiên cứu của Đại học Kinh tế quốc dân đã đưa ra ba kịch bản:

Kịch bản A – “Khởi động nhanh”: Giai đoạn 2025- 2029 tăng trưởng GDP 11%/năm; 2030-2037 duy trì 9%/năm; 2038-2045 giảm xuống 7-8%/năm. Ưu điểm của kịch bản này là tận dụng được động lực ban đầu, tạo ra thời gian dài để điều chỉnh mô hình tăng trưởng. Nhưng áp lực trong 5 năm đầu rất lớn, dễ dẫn đến tình trạng kiệt sức và mất cân đối.

Kịch bản B - “Tăng tốc kéo dài”: Giai đoạn 2025- 2031 tăng trưởng 11%/năm; 2032-2038 duy trì 8,5- 9%/năm; 2039-2045 giảm xuống 6,5-7,5%/năm. Kịch bản này có thời gian chuẩn bị dài hơn, áp lực được phân bổ đều qua các giai đoạn. Nhưng rủi ro nằm ở việc duy trì động lực tăng trưởng cao trong thời gian dài khi chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về thể chế và năng lực.

Kịch bản C - “Sóng tăng trưởng”: chia làm các giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị từ năm 2025 - 2030, tăng trưởng GDP từ 8- 10%/năm; Tăng tốc: từ 2031- 2035 GDP tăng từ 11-12%/năm. Từ 2036 - 2040, GDP tăng 8,5-9%/năm: Giai đoạn 2041 - 2045 duy trì mức tăng trưởng 6,5-7,5%/năm. Đây là ba giai đoạn với logic “chuẩn bị kỹ lưỡng - đẩy mạnh toàn diện - tối ưu hóa hiệu quả”.

GS. Vân Hoa chọn kịch bản C bởi đây là kịch bản tối ưu vì cho phép cải cách thể chế toàn diện, nâng cấp công nghệ và phát triển vốn nhân lực. Chia các giai đoạn rõ ràng với các phương án dự phòng cụ thể giúp ta chủ động điều chỉnh chiến lược, giảm thiểu rủi ro từ các cú sốc bất ngờ và đảm bảo tính bền vững trong dài hạn và chủ động điều chỉnh chiến lược, đảm bảo đạt mục tiêu cuối cùng.

Bài học Đông Á

Các quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc từng đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều thập kỷ, đưa họ từ những nền kinh tế nghèo trở thành các quốc gia công nghiệp phát triển. “Nhưng không phải quốc gia nào tăng trưởng nhanh cũng giàu có. Nhiều nước đã tăng trưởng nóng rồi rơi vào khủng hoảng, mất kiểm soát nợ công, lạm phát và bất ổn xã hội”- TS. Vũ Thành Tự Anh, Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, Đại học Fulbright Việt Nam cho hay. Nếu không có những thay đổi căn bản trong mô hình phát triển, Việt Nam sẽ “chỉ tiếp tục chìm đắm trong mô hình Đông Nam Á” - vốn tăng trưởng chậm và dễ tổn thương.

Ở trong nước, bài học của giai đoạn 2007- 2008 về thúc đấy tăng trưởng thông qua mở rộng tín dụng đã để lại nhiều hậu quả cần khắc phục trong thời gian dài, đặc biệt là lạm phát cao, suy giảm tăng trưởng và mất an toàn hệ thống tài chính. “Cần tránh tư duy “đánh đổi” giữa tăng trưởng và ổn định. Nếu chúng ta không đảm bảo được ổn định kinh tế vĩ mô thì tất cả những mục tiêu khác đều khó có thể hoàn thành”- PGS.TS. Phạm Thế Anh (Đại học Kinh tế quốc dân) nhấn mạnh.

“Mục tiêu đặt ra cao. Lựa chọn con đường nào phù phợp để hiện thực hóa mục tiêu là vấn đề cần tính toán kỹ trong bối cảnh đất nước còn nhiều thách thức về thể chế, nguồn lực, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, khoa học - công nghệ”- PGS.TS. Phạm Hồng Sơn, Phó trưởng Ban Chính sách Chiến lược Trung ương lưu ý.

Việt Nam cần một con đường riêng

Tăng trưởng bền vững đòi hỏi cải thiện chất lượng tăng trưởng, đặc biệt là năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Mức tăng năng suất hiện nay vẫn thấp hơn mục tiêu đề ra và chưa tiệm cận với các nước từng đạt tăng trưởng hai con số. Các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vốn con người – đặc biệt là vốn con người – cần được sử dụng hiệu quả hơn. Đồng thời, phải thu hút được nguồn vốn cho tăng trưởng xanh, công nghệ cao, và khai thác hiệu quả các nguồn lực mới như dữ liệu số, văn hóa truyền thống, đổi mới sáng tạo. Khu vực FDI cần được kết nối chặt chẽ hơn với nền kinh tế trong nước.

Các chuyên gia cũng nhấn mạnh cần tăng cường năng lực nhà nước để điều phối và quản lý hiệu quả nền kinh tế. Nếu thúc đẩy tăng trưởng quá nhanh mà không có bộ máy đủ năng lực, sẽ dẫn đến “va chạm, rạn nứt”. Nhà nước phải trở thành trụ cột kiến tạo phát triển, có năng lực chính sách và hành chính cao, trọng dụng nhân tài, vận hành chuyên nghiệp và có trách nhiệm giải trình.

Các chuyên gia kết luận: trong việc hoạch định và thực thi chiến lược tăng trưởng, Việt Nam cần phải có con đường riêng của mình, chứ không thể đi theo con đường của bất cứ quốc gia nào.Và cần lựa chọn kịch bản phù hợp với điều kiện của Việt Nam để vừa đạt mục tiêu, vừa đảm bảo nền tảng vững chắc, phải giảm rủi ro, tránh “sốc tăng trưởng”.

Xem thêm

Áp lực tăng trưởng dồn lên cuối năm, “cuộc đua” 10% bắt đầu tăng tốc

Áp lực tăng trưởng dồn lên cuối năm, “cuộc đua” 10% bắt đầu tăng tốc

(NB&CL) Mức tăng trưởng 7,83% trong quý I/2026 dù tích cực nhưng vẫn chưa đủ để chạm mục tiêu hai con số, buộc nền kinh tế phải “tăng tốc gấp” trong các quý còn lại. Trong bối cảnh đó, bài toán không chỉ nằm ở xuất khẩu hay FDI, mà còn ở việc kích hoạt mạnh mẽ cả đầu tư công, tiêu dùng nội địa và dòng vốn tư nhân để tạo cú bứt phá cho tăng trưởng.

Lạm phát khiến Nga thận trọng hạ lãi suất

Lạm phát khiến Nga thận trọng hạ lãi suất

(CLO) Ngân hàng Trung ương Nga vừa quyết định hạ lãi suất cơ bản từ 14,5% xuống 14,25%, mức giảm thấp hơn so với kỳ vọng của thị trường. Động thái này cho thấy cơ quan điều hành tiền tệ vẫn đặt ưu tiên kiểm soát lạm phát lên hàng đầu, trong bối cảnh giá nhiên liệu tăng và áp lực chi tiêu ngân sách tiếp tục gia tăng.

Nhiều động lực tăng trưởng cần được kích hoạt mạnh mẽ

Nhiều động lực tăng trưởng cần được kích hoạt mạnh mẽ

(NB&CL) Dù GDP quý I/2026 tăng 7,83% - mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, song kết quả này vẫn thấp hơn đáng kể so với kịch bản tăng trưởng 9,1% theo Nghị quyết 01/NQ-CP của Chính phủ. Điều đó đồng nghĩa áp lực tăng trưởng đang dồn mạnh vào các quý còn lại của năm, khi nền kinh tế phải bước vào trạng thái “bứt tốc” để hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số mang tính lịch sử.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung: Muốn tăng trưởng cao phải cải cách mạnh

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung: Muốn tăng trưởng cao phải cải cách mạnh

(NB&CL) Trong cuộc trao đổi với Nhà báo và Công luận về chủ đề “Tạo sức bật cho giai đoạn tăng trưởng mới”, TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhấn mạnh: Điều Việt Nam thiếu hiện nay không còn là nguồn lực, mà là khả năng giải phóng nguồn lực thông qua cải cách thể chế và thay đổi cách phân bổ nguồn lực cho tăng trưởng.

Hòa bình Trung Đông và bài toán dư cung dầu mỏ toàn cầu

Hòa bình Trung Đông và bài toán dư cung dầu mỏ toàn cầu

(CLO) Khi nguy cơ gián đoạn nguồn cung dần lùi xa, thị trường dầu mỏ toàn cầu lại đối mặt với bài toán mới: dư thừa dầu. IEA cho rằng nguồn cung có thể tăng mạnh trong khi nhu cầu chỉ tăng khiêm tốn trong năm tới.

GS.TS Trần Thọ Đạt: Tăng trưởng phải bắt đầu từ nội lực

GS.TS Trần Thọ Đạt: Tăng trưởng phải bắt đầu từ nội lực

(NB&CL) Trong cuộc trao đổi với Nhà báo và Công luận về chủ đề “Tạo sức bật cho giai đoạn tăng trưởng mới”, GS.TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng: Muốn tạo sức bật thực chất, Việt Nam cần mở ra không gian tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, và năng lực nội sinh.

Khi “Chính phủ kiến tạo” dùng sức mạnh tài khóa để tạo cú hích cho nền kinh tế

Khi “Chính phủ kiến tạo” dùng sức mạnh tài khóa để tạo cú hích cho nền kinh tế

(NB&CL) Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số đang đặt ra áp lực rất lớn cho nền kinh tế, chính sách tài khóa được xem là “đòn bẩy” quan trọng để tạo sức bật cho tăng trưởng trong giai đoạn tới. Từ đẩy mạnh đầu tư công, miễn giảm thuế phí, hỗ trợ doanh nghiệp đến kích cầu tiêu dùng và khơi thông các nguồn lực xã hội, dư địa của chính sách tài khóa vẫn còn rất lớn nếu được điều hành linh hoạt và hiệu quả.

Giảm thuế, đầu tư hạ tầng, nới visa: Bộ ba chính sách tạo lực đẩy cho du lịch Việt Nam

Giảm thuế, đầu tư hạ tầng, nới visa: Bộ ba chính sách tạo lực đẩy cho du lịch Việt Nam

(NB&CL) Sau khi vượt qua giai đoạn đầy thách thức do đại dịch Covid-19 gây ra, du lịch Việt Nam đã có sự phục hồi ấn tượng và đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, bà Hoàng Thị Năm, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Hang Ngọc Rồng nhấn mạnh: Đằng sau sự phục hồi đó là sự đồng hành của Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương thông qua hàng loạt chính sách hỗ trợ kịp thời và hiệu quả.

Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị kiến tạo hệ sinh thái đầu tư

Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị kiến tạo hệ sinh thái đầu tư

(CLO) Trả lời phỏng vấn của báo Nhà báo và Công luận, từ góc nhìn nhiều năm làm công tác xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước, ông Lê Hữu Quang Huy, Phó Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA), cho rằng, điểm đáng chú ý của Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là yêu cầu chuyển từ tư duy “chờ đợi nhà đầu tư” sang chủ động tìm kiếm, lựa chọn và đồng hành cùng các đối tác chiến lược, thay vì chỉ cạnh tranh bằng ưu đãi và quy mô vốn.

Nghị quyết 10: Định vị lại vai trò của FDI trong giai đoạn phát triển mới

Nghị quyết 10: Định vị lại vai trò của FDI trong giai đoạn phát triển mới

(CLO) Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà còn đánh dấu sự chuyển đổi trong tư duy thu hút FDI của Việt Nam. Thay vì ưu tiên số lượng và quy mô vốn, Việt Nam đang hướng tới thu hút công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Thu hút FDI không phải để có thêm nhà máy, mà để Việt Nam giàu lên thực sự

Nghị quyết 10 thể hiện tư duy đột phá về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

(CLO) Nghị quyết 10-NQ/TW cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ trong tư duy phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo GS.TS Trần Thọ Đạt, mục tiêu của Việt Nam không còn là thu hút thật nhiều vốn FDI, mà là tận dụng dòng vốn này để nâng cao năng lực công nghệ, phát triển doanh nghiệp nội địa và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Cỡ chữ bài viết: