(Congluan.vn) - Nhà thơ Lê Kim tên thật là Nguyễn Duy Long. Ông sinh năm 1928 tại Bắc Ninh. Lê Kim làm thơ từ năm 1945, khi ông mới 17 tuổi. Ông có nhiều bài thơ đả kích, châm biếm làm nhiều người đọc thích thú và được chính nhà thơ Xuân Diệu viết lời cho tập thơ đầu tay của ông.
Đại tá, nhà thơ, nhà báo Lê Kim (Ảnh: QĐND)
Nhà thơ Lê Kim, tuổi trên tám mươi mà vẫn rất khỏe mạnh, vui vẻ, hài hước như những câu thơ và giai thoại về ông. Ba thằng một cái chăn bông/ Nằm thẳng cũng khổ, nằm cong cũng phiền/ Đắp dọc thì hở hai bên/ Đắp ngang thì lạnh như tiền cái chân…
Hôm đã lâu, tôi trêu: “Bác Lê Kim ơi! Ba thằng đàn ông ngủ với nhau gớm chết, chả chính qui tí nào”. Lê Kim cười trơ lợi, eo éo giọng kim bảo: “Úi dào, bọn tớ ngày ấy còn bốn năm thằng một cái ấy chứ. Cánh dân công Điện Biên chị em cũng thế cả. Vui đáo để mà hồn nhiên chết người. Nghĩ mình ngày ấy cũng khờ quá đi”.
Nhà thơ cười rồi chợt im lặng. Hồi ấy, tôi còn ở Truyền hình, đang tham gia tổ chức kịch bản chương trình giao lưu Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Biết Lê Kim từng tham gia chiến dịch này với cương vị nhà báo nên đến khai thác tư liệu từ ông. Ông niềm nở và có trí nhớ tuyệt vời. Những câu chuyện, chi tiết ông kể về dân công, bộ đội ta trong chiến dịch rất sinh động. Hẹn gặp nhau tại lòng chảo Điện Biên Phủ, trước lúc ra về, chợt nhớ tới thông tin không biết thực hay hư về chuyện có mấy binh lính Nhật lạc rừng từ thời chiến tranh thế giới thứ hai đang gây xôn xao, tôi trêu nhà thơ Lê Kim: “Hôm lên Điện Biên, bác nhớ mặc quân phục của ta. Bác vốn có khuôn mặt giống người Pháp, không khéo dân quân du kích trên ấy tưởng nhầm là địch thì bỏ bố...” Lê Kim cười lục cục: “Ngày xưa cũng nhiều lần bị nhầm rồi đấy. Toàn các mẹ dân công mới chết chứ. Nhưng tớ vốn mau mồm mau miệng, tiếng Kinh tiếng Thái làu làu, lại biết ứng phó bằng thơ vui tếu táo nên đều thoát hiểm cả. Mà ngần này tuổi rồi. Tới cõi rồi. Tớ cóc sợ”.
Cuộc ấy, trên đường lên Điện Biên, đoàn chúng tôi gặp lũ quét tại cầu Tạ Khoa. Hú hồn hú vía nhưng có lẽ nhờ anh linh của các anh hùng liệt sĩ Điện Biên nên chương trình đều suôn sẻ cả.
Trong các cuộc trò chuyện với Lê Kim, cuộc ấy và sau này, dù tôi chẳng ghi chép gì nhiều, thì những câu thơ vui, những mẩu chuyện hài nhà thơ kể vẫn hằn rõ trong trí nhớ.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, thơ ca hò vè của bộ đội và dân công phát triển rôm rả lắm. Ngoài những văn nghệ sĩ chuyên nghiệp với những tác phẩm lớn thì chính những vần thơ câu vè nôm na đã cổ động rất tích cực quân và dân ta giành chiến thắng. Khi lục lại cái khoang thơ ca hò vè ấy, tôi không khỏi tâm phục khẩu phục các bậc cha anh mình ngày trước.
Một hôm, tôi mời Lê Kim tới giao lưu với sinh viên Phân viện Báo chí và Tuyên truyền với chủ đề Thơ vui chiến sĩ. Khi làm kịch bản, tôi đã có xen đối đáp trước với Lê Kim rất thú vị, rất Lê Kim. Tôi bảo: “Bác ơi, ngày ấy, bác viết thế này trong kháng chiến khác gì tự quảng cáo mình có gia đình, mình đang ở chiến trường, vừa cảnh báo anh hàng xóm, vừa làm đê chắn sóng mấy mẹ dân công thì cô nào dám sán đến nữa: Mấy lời nhắn nhủ mẹ cu/ Anh về anh sẽ đền bù của anh/ Cơm không ăn gạo để dành/ Mặc anh hàng xóm loanh quanh ra vào... Bền gan gắng đợi tí ti/ Giặc tan nhất định anh về với... con... thì người ta biết tỏng hết cả còn đâu”. - Này này, có đấy có đấy - Lê Kim nói ngay - Các mẹ ngày ấy có biết chữ đâu, nhưng thơ ca thì cỡ tớ phải phục lăn. Nghe đây xem có ghê không: Gặp anh em sướng rơn rơn/ Anh nắm anh kéo lên đồn khiêng bom/ Anh bảo: Coóc-xê một hòm/ Tưởng bở em mới... hú hồn vàng ươm/ Anh ơi mai lại công đồn/ Coóc-xê thu được em hôn anh nhày (nhảy). Tôi cười sặc sụa la to: “Ôi chao các bố các mẹ. Ngày xưa đánh giặc cũng giỏi mà tếu táo cũng khiếp vía".
Nhà thơ Lê Kim tên thật là Nguyễn Duy Long. Ông sinh năm 1928 tại Bắc Ninh. Lê Kim làm thơ từ năm 1945 khi đang học trường Trung học Hàn Thuyên - Bắc Ninh, từng được bầu làm chủ bút tờ nội san Đoàn kết của nhà trường. Gia nhập quân đội năm 1946, một năm sau ông trở thành phóng viên chủ lực của báo Bắc Sơn (Việt Bắc) rồi chủ bút báo Quân Trung du. Từ năm 1950 đến 1955, ông công tác tại Sư đoàn 308, lần lượt giữ các chức vụ: Chính trị viên đại đội, Chính trị viên tiểu đoàn, Trưởng ban Tuyên huấn trung đoàn. Ông tham dự các chiến dịch Biên Giới, Trung Du, Đồng Bằng, Đông Bắc, Tây Bắc, Thượng Lào và Điện Biên Phủ. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông về công tác tại báo Quân đội Nhân dân, là bình luận viên Quốc tế.
Sớm đến với thơ ca khi mới 17 tuổi, từng được nhà thơ Xuân Diệu viết lời giới thiệu tập thơ đầu tay Đời cứ tươi năm 1948. Nhà thơ Tú Mỡ rất thích và luôn động viên thơ đả kích của Lê Kim. Riêng Lê Kim quan niệm: Thơ châm biếm, đả kích là một loại vũ khí sắc nhọn, kịp thời tiến công vào cái ác, cái xấu, để cuộc đời thêm tươi vui, lành mạnh. Tôi làm thơ theo cảm xúc riêng, cũng nhiều lần viết theo “đơn đặt hàng”, đã làm đủ các thể loại: thơ ca, hò vè, tấu nói, diễn ca... coi như một công tác phục vụ khác chiến, phục vụ cách mạng.
Lê Kim nói khiêm tốn thế chứ những câu như: Mặc cho trời đất xoay vần/ Thịt da ta lại đắp lần thịt da... là thơ đích thực. Có được một bài thơ, một câu thơ người đời nhớ đã là quý lắm rồi.
Nhà thơ Lê Kim đã in nhiều đầu sách, tiêu biểu như: Đời cứ tươi (Thơ, 1948); Điện Biên Phủ (Thơ đả kích, 1954); Mỹ ngụy thảm bại khúc (Thơ đả kích, 1971); Anh Đại thắng, chị Hòa bình (Tấu, 1973); Khoa học bịp (Tiểu phẩm, 1978); Thơ và tình (Thơ, 1998)... Đặc biệt, ông còn tham gia dịch sách, tài liệu quân sự, khoa học, văn học, báo chí... được trong và ngoài giới ghi nhận.
Đôi lúc, tôi cứ lẩn mẩn nghĩ rằng, không hiểu ông lấy ở đâu ra nhiều sức lực đến thế để làm việc, cái công việc luôn đòi hỏi sự minh mẫn và niềm đam mê, nhiều lúc là sự thiệt thòi trong cuộc sống.
Hỏi đấy rồi lại tự trả lời. Thế hệ ông, thế hệ của những người lính từng trải qua các cuộc chiến tranh, từng nhận ra đường đi của mình từ rất sớm, thì hẳn nghị lực và niềm tin của thế hệ ông, chính là từ mỗi bước đường gian khổ của mình, của nhân dân mình.
Và riêng ông, ông chả đã từng nói: Đời cứ tươi cứ thơ vui chiến sĩ đấy thôi!
- Phùng Văn Khai