Ảnh: TT.
Trao đổi với Báo Nhà báo và Công luận, bà Đỗ Thị Ngọc, Phó Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho rằng: Triển vọng đạt mức tăng trưởng trên 10% trong quý II/2026 là “rất thách thức” trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động và các động lực tăng trưởng trong nước chưa phục hồi đồng đều.
Tuy nhiên, theo bà, Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng cần được “giải phóng”, đặc biệt từ đầu tư công, tiêu dùng nội địa và khu vực kinh tế tư nhân.
Tăng trưởng trên 10% trong quý II: Rất thách thức!
+ Với kết quả tăng trưởng GDP quý I/2026, Cục Thống kê đánh giá như thế nào về khoảng cách so với kịch bản tăng trưởng theo Nghị quyết 01/NQ-CP?
- Theo kết quả ước tính, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2026 tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này tuy thấp hơn kịch bản đề ra tại Nghị quyết 01 của Chính phủ là 9,1%, nhưng vẫn được đánh giá là tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Theo tôi, tăng trưởng quý I/2026 chưa đạt được kỳ vọng là do tác động tổng hợp từ các yếu tố bất lợi bên ngoài và những hạn chế nội tại của nền kinh tế.
Trên thế giới, xu hướng gia tăng rào cản bảo hộ thương mại và các tiêu chuẩn xanh khắt khe, cùng với chiến tranh thương mại, xung đột vũ trang gia tăng làm tăng chi phí logistics; biến động của tỷ giá, mặt bằng lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao đã làm gia tăng chi phí đầu vào, gây áp lực lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp.
Ở trong nước, khu vực kinh tế tư nhân vẫn đang trong quá trình phục hồi, khả năng hấp thụ vốn chưa đồng đều. Trong khi đó, nhiều dự án đầu tư công trọng điểm mới ở giai đoạn triển khai ban đầu, chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa rõ rệt đến tăng trưởng.
+ Dựa trên các chỉ số kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm, Cục Thống kê dự báo triển vọng tăng trưởng quý II/2026 ra sao, liệu có đạt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết 01 hay không, thưa bà?
- Trên cơ sở kết quả ước tính quý I/2026, để bù đắp phần tăng trưởng còn thiếu hụt của quý I và hướng tới mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên cho cả năm 2026, nền kinh tế cần đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn đáng kể trong các quý còn lại.
Theo đó, chúng tôi đã cập nhật kịch bản tăng trưởng theo quý với mức tăng dự kiến tương đối cao và có tính chất bứt tốc. Cụ thể, quý II/2026, GDP ước tăng khoảng 10,4%. Các quý tiếp theo được dự báo duy trì đà tăng trưởng cao, với quý III ước tăng khoảng 10,6% và quý IV khoảng 10,8%.
Có thể thấy, kịch bản này cho thấy nền kinh tế cần phải chuyển sang trạng thái bứt tốc mạnh mẽ từ quý II trở đi, trong đó động lực chính tiếp tục đến từ khu vực công nghiệp và xây dựng, khu vực dịch vụ với kỳ vọng phục hồi rõ nét hơn của sản xuất chế biến, chế tạo, hoạt động xuất nhập khẩu và tiêu dùng nội địa.
Tuy nhiên, đây là kịch bản mang tính điều hành, để đạt được mục tiêu này còn đòi hỏi sự hội tụ đồng bộ của nhiều điều kiện thuận lợi. Trong đó, một số yếu tố then chốt bao gồm: Thứ nhất, tiến độ giải ngân đầu tư công được đẩy nhanh, đặc biệt là dự án hạ tầng quy mô lớn. Thứ hai, cầu thị trường quốc tế phục hồi ổn định, giảm áp lực từ các rào cản thương mại. Thứ ba, môi trường tài chính, tiền tệ duy trì ổn định, hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí vốn. Cuối cùng, khu vực kinh tế tư nhân cải thiện rõ rệt năng lực hấp thụ và mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh.
Tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, triển vọng đạt mức tăng trưởng trên 10% trong quý II là rất thách thức, đặc biệt yếu tố bên ngoài còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, kết quả thực hiện sẽ phụ thuộc lớn vào hiệu quả điều hành chính sách vĩ mô và khả năng tận dụng, khai thác và làm mới các động lực tăng trưởng trong nước.
Nếu các giải pháp được triển khai quyết liệt và đúng trọng tâm, tăng trưởng kinh tế từ quý II trở đi có thể cải thiện rõ rệt, qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách so với mục tiêu đầu năm đề ra.
Nhiều tiềm năng tăng trưởng cần được “giải phóng”
+ Bà có thể chia sẻ những động lực chính nào đang đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, và đâu là yếu tố còn chưa phát huy hết tiềm năng?
- Tăng trưởng kinh tế quý I/2026 vẫn dựa chủ yếu vào các động lực truyền thống, bao gồm sản xuất - xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng nội địa. Trong khi các động lực mới như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, cải cách thể chế đã có cải thiện nhưng chưa đủ lớn để trở thành động lực tăng trưởng thực sự trong ngắn hạn.
Đầu tiên, sản xuất và xuất khẩu tiếp tục là trụ cột cho tăng trưởng, khẳng định năng lực cung ứng bền bỉ của Việt Nam. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì đà tăng trưởng khá với mức tăng 9,73%, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, cho thấy sự phục hồi của hoạt động sản xuất và năng lực cung ứng trong nước, đặc biệt ở các ngành điện tử, dệt may, sản xuất kim loại.
Đồng thời, hoạt động xuất khẩu vẫn diễn ra sôi động, tạo điểm tựa vững chắc cho hoạt động sản xuất trong nước.
Tiếp đến, tiêu dùng nội địa có xu hướng cải thiện, đóng vai trò ổn định tổng cầu. Bên cạnh đó, đầu tư công được đẩy mạnh ngay từ những tháng đầu năm cũng tạo hiệu lực lan tỏa tích cực cho nền kinh tế. Nhiều dự án hạ tầng giao thông, năng lượng và chuyển đổi số được thúc đẩy giải ngân nhằm kích thích tổng cầu, hỗ trợ doanh nghiệp và tạo việc làm. Đây là một trong những động lực quan trọng để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026.
Trong khi đó, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, kinh tế số được đẩy mạnh hơn, đi sâu vào các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao nhưng mới chỉ đóng vai trò hỗ trợ, chưa đóng vai trò dẫn dắt.
Dù nền kinh tế có nhiều điểm tích cực, song vẫn có một số yếu tố chưa phát huy được hết tiềm năng. Ví dụ, cầu tiêu dùng nội địa và đầu tư khu vực tư nhân có thể được xem là các không gian tăng trưởng chưa được khai thác đầy đủ.
Cụ thể, đối với tiêu dùng dân cư, mặc dù tổng mức bán lẻ tiếp tục tăng nhưng chưa tương xứng với thị trường hơn 100 triệu dân nên còn dư địa tăng trưởng cao trong thời gian tới.
Thực tế hiện nay, tâm lý thận trọng của người dân trước biến động kinh tế đã thúc đẩy xu hướng tích lũy và phòng ngừa rủi ro, khiến sức cầu chưa được giải phóng hoàn toàn. Vì vậy, cầu nội địa hiện mang tính chất tiềm ẩn và có khả năng phục hồi nhanh khi niềm tin thu nhập và triển vọng kinh tế được củng cố.
Đối với khu vực tư nhân, khả năng hấp thụ vốn chưa ghi nhận sự cải thiện rõ nét, phản ánh trạng thái điều chỉnh và tái cơ cấu của doanh nghiệp. Tăng trưởng tín dụng chưa bứt tốc cho thấy khu vực doanh nghiệp đang duy trì sự thận trọng trong quá trình tái cấu trúc dòng tiền và rà soát lại mô hình kinh doanh.
Bên cạnh đó, các chính sách tài khóa và tiền tệ luôn cần một độ trễ nhất định để phát huy hiệu quả và khu vực tư nhân hiện đang trong giai đoạn thẩm thấu các chính sách hỗ trợ trước khi bước vào một chu kỳ mở rộng quy mô mới.
Nhìn tổng thể, nền kinh tế đang được duy trì bởi khu vực sản xuất và vai trò dẫn dắt của đầu tư công. Các yếu tố như tiêu dùng nội địa và đầu tư tư nhân không phải là điểm nghẽn mang tính cơ cấu mà là các dư địa tăng trưởng đang tích lũy, có khả năng tạo động lực bứt phá khi điều kiện vĩ mô trở nên thuận lợi và chính sách được truyền dẫn đầy đủ vào nền kinh tế.
+ Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026, theo đánh giá từ số liệu thống kê, Việt Nam cần tập trung thúc đẩy những giải pháp, lĩnh vực nào trong các quý còn lại của năm, thưa bà?
- Như tôi đã chia sẻ, mục tiêu tăng trưởng hai con số cho cả năm 2026 là một mục tiêu đầy thách thức mà mang tính lịch sử, nhưng nếu các động lực tăng trưởng được kích hoạt mạnh mẽ và đồng bộ trong các quý còn lại, chúng ta vẫn có cơ sở để bám sát mục tiêu tăng trưởng đã đề ra. Do đó cần tập trung giải quyết giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở một số lĩnh vực.
Thứ nhất là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát giá cả và thị trường. Việt Nam cần theo dõi sát diễn biến quốc tế, kịp thời cập nhật kịch bản tăng trưởng, lạm phát. Điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt, thận trọng nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Quản lý giá xăng dầu hiệu quả, tránh điều chỉnh đồng thời các mặt hàng Nhà nước quản lý để giảm áp lực lạm phát.
Thứ hai, đầu tư công tiếp tục là động lực quan trọng nhất cần được thúc đẩy mạnh hơn nữa. Riêng trong năm 2026, chúng ta cần tập trung vào các siêu dự án hạ tầng như: Sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc, cụm đường vành đai, khu đô thị thể thao Olympic,... những siêu dự án này sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh tới các ngành kinh tế khác.
Vì vậy, các quý còn lại cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, nguồn vật liệu xây dựng, đấu thầu và phân cấp mạnh hơn cho địa phương nhằm đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng chiến lược. Tập trung rà soát, phân bổ chi tiết 100% kế hoạch vốn, xây dựng lộ trình thực hiện, giải ngân cụ thể theo tháng, theo quý và gắn trách nhiệm người đứng đầu.
Thứ ba, đó là đẩy mạnh tiêu dùng nội địa, phát triển thị trường trong nước. Đặc biệt, từ ngày 1/7 tới đây, nhờ chính sách cải cách tiền lương, tiêu dùng nội địa được dự báo sẽ cải thiện.
Thứ tư, Việt Nam cần thúc đẩy xuất khẩu bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, chúng ta cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA). Cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống nhằm hạn chế rủi ro từ biến động thương mại và chính sách bảo hộ.
Đồng thời, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng cao của các thị trường lớn như Mỹ, EU hay Nhật Bản.
Thứ năm, Việt Nam cần tăng cường phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Để khu vực này trở thành động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số năm 2026, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, đầu tư, tín dụng và giảm chi phí cho doanh nghiệp nhằm khơi thông nguồn lực sản xuất, kinh doanh.
Tôi cho rằng, chúng ta cũng cần khuyến khích phát triển các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, có khả năng dẫn dắt trong các ngành công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, logistic và kinh tế số, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Cuối cùng, để đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số không thể không nhắc đến việc tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, thông qua hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo.
Ngoài ra, cần tăng cường nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghệ cao, đầu tư vào hạ tầng số và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của nền kinh tế trước biến động toàn cầu, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và các năm tiếp theo.
+Xin cảm ơn bà!