+ Thưa ông, Chính phủ đang đặt mục tiêu tăng trưởng rất cao cho năm nay và những năm sau. Đâu là điều kiện quan trọng nhất để tạo ra một chu kỳ tăng trưởng mới thực chất hơn?
- Muốn tăng trưởng cao không thể tiếp tục tăng trưởng theo cách cũ mà phải chấp nhận cải cách mạnh.
Điều quan trọng hiện nay không phải là chúng ta thiếu vốn hay thiếu nguồn lực, mà là nguồn lực đang bị kìm hãm bởi môi trường kinh doanh, bởi cách quản lý và bởi hệ thống thể chế chưa thực sự tạo thuận lợi cho đầu tư, sản xuất kinh doanh, cho đổi mới sáng tạo. Không tháo được các điểm nghẽn thể chế rất khó tạo ra động lực tăng trưởng mới.
Tôi cho rằng tư duy chỉ đạo gần đây có chuyển biến tích cực. Tinh thần “không quản được thì cấm” bắt đầu được thay đổi. Quan điểm chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, quản lý dựa trên quy chuẩn, tiêu chuẩn thay vì xin – cho là hướng đi đúng. Nhưng vấn đề quyết định vẫn là thực thi.
+ Ông từng nói nhiều về yêu cầu cải cách môi trường kinh doanh. Theo ông, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là gì?
- Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là cách quản lý vẫn mang nặng tư duy tiền kiểm.
Chúng ta nói cải cách môi trường kinh doanh đã nhiều năm rồi, nhưng thực chất thay đổi chưa tương xứng. Tôi cho rằng phải nhìn vào kết quả thực tế chứ không thể chỉ nhìn số lượng văn bản được ban hành.
Ví dụ mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp (DN) là mục tiêu rất rõ ràng. Nhưng đến nay mới có khoảng 1 triệu DN đang hoạt động. Nghĩa là mỗi năm phải tăng thêm khoảng 200.000 DN nữa mới đạt mục tiêu. Trong khi xu hướng thực tế lại đang đi ngược kỳ vọng.
Trước đây tỷ lệ DN gia nhập và quay lại thị trường so với DN rút lui ở mức khoảng 2 vào – 1 ra, thì hiện nay gần như chỉ còn xấp xỉ 1 đổi 1. Nếu xu hướng này tiếp diễn thì gần như không thể đạt mục tiêu 2 triệu DN vào năm 2030.
Điều đáng nói là rất ít cơ quan nhìn thẳng vào thực trạng này. Ngay cả giới truyền thông, nhiều khi chỉ nhấn mạnh số DN thành lập mới, số DN rút lui khỏi thị trường cũng tăng rất mạnh thì lại ít được nhắc tới.
Theo tôi, muốn có khu vực kinh tế tư nhân đủ mạnh thì phải đánh giá bằng kết quả thực chất, chứ không phải bằng cảm nhận hay báo cáo hình thức.
+ Chính phủ đã xác định phải cải cách mạnh mẽ, thúc đẩy mạnh cắt giảm điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính. Cải cách theo hướng nào để tạo chuyển biến thực chất hơn?
- Điều quan trọng nhất là phải thay đổi cách tiếp cận. Hiện nay nhiều nơi vẫn làm theo kiểu giao chính các Bộ tự rà soát, tự đánh giá hiệu quả cải cách của mình. Tôi cho rằng cách làm đó rất khó khách quan. Các bộ không bao giờ tự bỏ quyền của mình cả.
Nếu muốn cải cách thực chất thì phải có cơ chế giám sát độc lập, có bộ phận chuyên trách theo dõi thường xuyên và phải đánh giá liên tục chứ không thể một năm báo cáo một lần. Nếu chỉ cắt vài điều kiện phía dưới mà không xử lý phần gốc thì các điều kiện đó sẽ quay trở lại.
Nhiều năm qua, việc phân loại ngành nghề kinh doanh có điều kiện gần như không có cơ sở khoa học rõ ràng. Có lĩnh vực thì quy định quá rộng, có lĩnh vực lại quá hẹp. Có nơi áp cho cả một ngành kinh tế, có nơi chỉ áp cho một nghề riêng lẻ.
Ví dụ có những ngành rất rộng như “kinh doanh hóa chất”, “kinh doanh thủy sản”, nhưng phía dưới lại sinh ra hàng chục giấy phép con khác nhau. Từ một cái gốc mọc tua tủa ra rất nhiều điều kiện mà không kiểm soát được.
Cần rà soát lại toàn bộ danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, xây dựng lại phương pháp phân loại trên cơ sở khoa học, xác định rõ lĩnh vực nào thực sự cần tiền kiểm, lĩnh vực nào có thể chuyển sang hậu kiểm. Tinh thần xuyên suốt phải là bảo đảm quyền tự do kinh doanh đúng như Hiến pháp quy định.
+ Ông nhấn mạnh nhiều đến chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Hậu kiểm có tạo ra khoảng trống quản lý?
- Không thể vì lo ngại mà tiếp tục duy trì cách quản lý cũ. Hậu kiểm không có nghĩa là buông lỏng quản lý, mà là thay đổi công cụ quản lý. Quản lý hiện đại phải dựa trên quy chuẩn, tiêu chuẩn và cơ chế giám sát thị trường.
Nhiều ngành hiện nay DN đã phải tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế rất khắt khe để xuất khẩu sang châu Âu, Nhật Bản hay Mỹ. Nhưng về trong nước lại phải chịu thêm rất nhiều giấy phép và điều kiện chồng chéo. Điều đó làm tăng chi phí và kéo giảm năng lực cạnh tranh. Nếu đã có hệ thống quy chuẩn rõ ràng thì không cần quá nhiều giấy phép tiền kiểm nữa. Đây là lúc phải thay đổi căn bản tư duy quản lý.
+ Theo ông, điều gì đang cản trở khu vực tư nhân đầu tư mạnh hơn vào đổi mới sáng tạo và công nghệ?
- Vấn đề lớn nhất hiện nay là niềm tin. Khi DN chưa cảm nhận rõ lợi ích từ chính sách thì họ sẽ chưa sẵn sàng bỏ vốn đầu tư dài hạn.
DN không cần hỗ trợ theo kiểu xin – cho. Họ cần môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, chi phí thấp và khả năng tiếp cận nguồn lực công bằng. Nếu môi trường kinh doanh méo mó thì nguồn lực sẽ tiếp tục chảy vào đầu cơ tài sản thay vì sản xuất hay đổi mới sáng tạo.
Một nền kinh tế muốn phát triển bền vững thì phải dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhưng muốn DN đầu tư cho đổi mới sáng tạo thì trước hết phải có môi trường đủ an toàn và thuận lợi để họ dám đầu tư.
Nếu không có môi trường kinh doanh thuận lợi thì đừng nói đến đổi mới sáng tạo, mà tất cả chỉ nằm trên giấy.
+ Vậy ông đánh giá thế nào về định hướng cải cách hiện nay?
- Tôi cho rằng định hướng cải cách hiện nay là đúng và rất tích cực. Nhưng cải cách thể chế không thể làm theo kiểu phong trào hay ngắn hạn. Đây phải là một quá trình liên tục, có cơ chế giám sát độc lập, có đội ngũ chuyên trách theo dõi đến cùng và phải tạo được áp lực cải cách thường xuyên đối với các bộ, ngành.
Quan trọng nhất là phải biến tinh thần cải cách thành hành động thực chất. Nếu không làm được điều đó thì rất khó tạo ra một khu vực DN tư nhân đủ mạnh để trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.
+ Xin cảm ơn ông!