Điều chỉnh kích thước chữ

Những người đem chữ ngược ngàn

(NB&CL) Ngày nhà giáo cận kề, tôi lại nghĩ về họ, những cô giáo tiểu học vùng cao. Trong tất cả những nặng nề của ngành giáo dục, có lẽ họ là vất vả nhất. Họ đơn thân, côi cút một mình nơi bìa rừng vách đá; mong mỏi làm nhịp cầu để đưa được 24 chữ cái đến với học sinh vùng cao.

Báo nói Công luận

Chuyện của cô giáo Hiền

Trước, cũng vào cữ này, tôi đi miền núi, lên đến với vùng cao miền đá Hà Giang. Đường từ Hà Nội lên Hà Giang ngày ấy xấu tệ. 4 giờ sáng từ Hà Nội, xe khách miệt mài chạy, sẩm tối mới đến thị xã Hà Giang. Mưa núi vần vũ, tôi tìm đến Mèo Vạc. Chị Nguyễn Thị Mơ lúc đó còn đang là Trưởng phòng Giáo dục của huyện. Để thấu, để hiểu ngành và thân phận giáo viên, theo gợi ý của chị Mơ, tôi đi Lũng Pù. Chiếc xe máy mượn được, “gào”, “hét”, “gầm”, “rú” đến cả ngày trên đá, tôi mới đi được 30km và tấp vào một điểm trường có tên “Độc lập”. Tẩn Thu Hiền là cô giáo sống đơn thân ở đó.

Có khách, chắc lâu lắm rồi mới có khách nên cô vui, gần như quên hết mọi thứ. Tíu tít, cô nhóm củi nấu mì tôm cho tôi ăn. Đến lúc bắc nồi thì mới nhớ ra là mình đã hết nước dùng đến cả 5 ngày nay. “Chay tịnh” và ăn mì tôm sống, uống nước cầm hơi là tình cảnh lúc bấy giờ của cô.

 Ngóng cô, một trong những niềm vui, niềm an ủi của nữ giáo viên vùng cao.
Hiền học hết lớp 9, nhà hoàn cảnh, không thể đi học được nữa. Có đợt trường Sư phạm Hà Giang tuyển giáo viên đi “xóa mù” vùng cao, cô vào ngành. Sau 1 tháng đào tạo, cô cùng các bạn được xe chở lên các huyện vùng cao để “rải”, cắm bản và làm giáo viên. Lớp 9, ở các nơi khác, bố mẹ còn lo cho ăn, sáng phải đưa đến lớp thì vào độ tuổi ấy, Hiền đã làm giáo viên ở Cao nguyên đá, phải chủ động tất cả.

Mỗi khi từ nhà lên trường, Hiền phải dậy từ 5 giờ sáng, đón một chuyến xe duy nhất, ì ạch đến thị trấn Mèo Vạc. Từ huyện vào còn có xe ôm chứ có việc gì phải từ trường ra huyện đột xuất thì chỉ chân trần đạp đá. 30km, đi từ sáng, đói tạt vào nhà dân xin mèn mén ăn rồi quẩy quả “bộ hành” tiếp đến sẩm tối mới ra huyện.

Ngôi trường dựng lên, căn trái gá vào bên lớp là chỗ cho cô giáo chưa đầy 20 tuổi đầu này ở. Cái giường bằng thân ngô, dát nứa do dân làm cho lúc nào cũng ẩm ướt và mốc meo một nửa vì không đủ hơi người. Sáng dậy nấu một nồi cơm cho cả ngày ăn. Những lúc chập chiều, sương buông, mây gió vần vũ, ngồi ăn cơm mà nước mắt chảy tràn trề. Đã có lúc Hiền nghĩ đến những chữ như: Hay là…

 Đưa con đi tìm cô, tìm chữ là hình ảnh hết sức ấn tượng trong mùa đến trường của đồng bào vùng cao.
Nhưng sáng dậy, chưa kịp thực hiện cái ý định “hay là” ấy thì đã thấy những đôi mắt trong veo của học trò nghèo người Mông lúng lính nơi cửa sổ cùng câu gọi hỏi: Cô gió (giáo) ơi, học chứ? Lại thấy thương, lại không muốn bỏ. Thế rồi cứ thương, cứ cấn cá như vậy, 24 chữ cái đảo đi, ghép lại, nhoàng cái, cô đã thành giáo viên lâu năm, gạo cội vùng cao.

Gạo cội đấy, nhưng giờ hỏi, Hiền chỉ bảo, với giáo viên tiểu học vùng cao như em, chỉ hỏi là đã dạy được bao nhiêu cái đầu biết đọc là vui lắm rồi. Năm vừa rồi, Hiền hạnh phúc nhất là có cậu học trò do mình dạy, được bầu làm chủ tịch xã đến thăm vào ngày 20/11 như sự đáp đền ơn chữ nghĩa với cô. Đây là hạnh phúc duy nhất của cô với gần 20 năm làm nghề “gieo chữ” trên cao nguyên đá này!

Chuyện của cô giáo Hà

Lại nhớ đợt quẩy quả “xẻ trường sơn”, vào thung lũng duy nhất có người Arem sinh sống (Thượng Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình). Không điện thắp sáng, không sóng điện thoại, không phương tiện nghe nhìn là tình cảnh ở đây trong thời gian đấy. Thế nhưng khi được huy động, đã có những cô giáo rất trẻ can đảm tìm lên.

  Niềm vui của cô giáo Lê Thị Hà với những học sinh nghèo Arem.
Cô giáo Hà, Lê Thị Hà là một trong những con người như vậy. Ngày đầu, đêm đầu là những kỷ niệm không quên trong cô. Miền sơn chướng, đêm sầm sập đến nhanh hơn đồng bằng. Trường bốn bề là núi vây hãm, nhà dân hầu như đều đi ngủ sớm. Buồn, tủi cô đã khóc ròng và vùi mình vào trong giấc ngủ đầy mệt mỏi. Một ý định “đào tẩu” đã đến với cô trong khoảnh khắc này.

Nhưng cô đã không làm được điều ấy vì sáng sau chưa kịp mở mắt thì trưởng thôn đã đưa một tụi trẻ, trứng gà trứng vịt đến với cô. Những đôi mắt khát khao, những niềm tin trẻ thơ cùng câu nói của trưởng thôn: “Chúng nó chờ và mong cô lắm!” đã làm bước chân cô díu lại với miền hoang vu này.

Dựng lớp, tìm trẻ và dỗ để đưa trẻ đến trường cùng sự kính trọng của bà con dân bản đã đem lại cho cô một niềm tin, một tình người. Ngày hai buổi, những đứa trẻ miền hoang vu đã bập bõm biết đọc, biết hát và làm cho thời gian trôi đi nhanh chóng. Và cũng như Hiền, việc lấy trẻ, lấy nghề làm vui này đã làm cho thời gian nhanh trôi và đưa Hà vào lớp giáo viên gạo cội ở miền Trường Sơn đầy nắng, gió này.

Có lẽ trong lực lượng giáo viên vùng cao, những nữ giáo viên tiểu học được coi là vất vả nhất. Họ là những chiến sĩ “cảm tử”, “xông” vào những nơi “đầu sóng, ngọn gió” và vất vả nhất của nghề. Mà những người như Hiền, như Hà tôi đã gặp chỉ là một trong những lát cắt nhỏ con nhất của ngành này, nghề này nơi gian khó nhất!

Song Nguyên