Phát hiện chưa từng công bố về sưu tập lụa cổ thế kỷ XVI

(NB&CL) Trung tâm tiền sử Đông Nam Á vừa giới thiệu sưu tập trang phục vải lụa thế kỷ XVI phát hiện ở vùng Bản Thí, Chợ Đồn, Bắc Kạn cũ (nay thuộc Thái Nguyên) và công bố những kết quả phục hồi, bảo quản và nghiên cứu quốc tế các hiện vật trong sưu tập này trong suốt hai năm qua.

Trang phục người Việt thời Lê - Mạc?

Theo giới thiệu của TS. Nguyễn Việt - Giám đốc Trung tâm tiền sử Đông Nam Á, vào đầu năm 2018, một nhóm thanh niên người Mông vào rừng kiếm mật ong thì phát hiện hai chum sành, có nắp được hàn kín bằng nhựa thông bên dưới một mái đá. Nghĩ là có vàng bạc hay đồ quý, họ cố gắng cạy ra, khiến một chum bị vỡ. Tuy nhiên, thay vì vàng bạc, họ thấy lộ ra nhiều vải lụa, quần áo vẫn còn mới. Tất cả số hiện vật này được đưa về bản, người dân thấy quần áo vẫn còn tốt liền đem ra mặc, chụp ảnh tưng bừng rồi lại cất vào trong chum. Lâu ngày, chiếc chum vỡ bị chuột vào làm tổ cắn phá và đẻ con…

Rất may, một vị cha cố Tin Lành biết chuyện, ông cho rằng đây là những hiện vật quý nên thu gom lại, đưa xuống “giao lưu” với những người buôn bán đồ cổ ở Tuyên Quang. Từ đây, các hiện vật lưu lạc đi nhiều nơi, sang cả Thái Lan.

Khi được xem bộ trang phục này, TS. Nguyễn Việt nhận định đây là hiện vật quý, giá trị rất cao. Sau đó, một nhà sưu tập ở Hà Nội đã bỏ tiền ra chuộc lại, đưa toàn bộ số hiện vật này về Việt Nam. Vị chủ nhân này cũng là người rất yêu di sản, nên đã đưa sưu tập vào bảo quản tại Bảo tàng Trung tâm tiền sử Đông Nam Á, giao toàn quyền cho TS. Nguyễn Việt nghiên cứu, đánh giá.

“Khi giao cho tôi, hiện vật trong chiếc chum vỡ ở tình trạng rối bù như một đống quần áo người ta bỏ đi”, TS. Nguyễn Việt nói và cho biết, khi đó ông chưa đánh giá được tuổi hiện vật, dù phong cách quần áo có vẻ giống như trang phục thời Đường bên Trung Quốc.

1(1).jpg
Một mẫu vật còn khá nguyên vẹn trong sưu tập vải lụa Bản Thí.

Giám định bằng phương pháp phân tích đồng vị carbon phóng xạ - C14 cho thấy niên đại của hiện vật cách nay từ 394 đến 396 năm. Nghi ngờ chất thải của chuột khiến tuổi hiện vật bị “trẻ hóa”, nhóm nghiên cứu Nhật Bản đã giám định lại, kết quả cho thấy hiện vật có tuổi dao động từ năm 1441 đến 1633, tương ứng với giai đoạn Lê - Mạc của nước Đại Việt. Nghiên cứu ban đầu của TS. Nguyễn Việt cùng cộng sự cũng hé lộ, các hiện vật được cho là phát hiện gần vị trí làng của người Việt “Thổ hoá” đã di cư lên khu vực Bắc Kạn từ thời Lê - Mạc.

Do vậy, TS. Nguyễn Việt đưa ra giả thiết, có thể đây là trang phục của một gia đình giàu có người Việt thời Mạc chạy loạn lên vùng Tuyên Quang, Bắc Kạn hồi thế kỷ XVI - XVII. Lý do củng cố cho giả thuyết này là hiện nay tại khu vực này vẫn còn nhiều dấu tích của chính quyền nhà Mạc và việc di cư của người Kinh lên, có thể để khai thác mỏ. Đồng thời, gia đình này không có yếu tố quan lại vì trên trang phục người đàn ông không có cốt hàm hình rùa hoặc hổ. Theo TS. Nguyễn Việt, trước đó, từ thời Lê Thánh Tông, chính quyền đã có điển chế về trang phục, theo đó lấy trang phục đời Minh bên Trung Quốc làm khuôn mẫu.

“Mặc dù có ảnh hưởng bởi kỹ thuật may mặc thời Minh khá nhiều nhưng tôi vẫn cho rằng đây là trang phục của gia đình quý tộc Việt. Lý do là trong nhóm nghiên cứu có các chuyên gia về đời Minh và nhiều công trình nghiên cứu về trang phục đời Minh - Thanh cũng cho thấy không giống ở đây”, TS. Nguyễn Việt nhận định.

TS. Nguyễn Việt cho biết thêm, trong quá trình nghiên cứu về trang phục cổ, ông đã gặp khoảng 10 bộ, thường có tuổi đời vào thế kỷ XVII - XVIII lấy từ các xác ướp, nhưng phần lớn đều ở tình trạng rất kém, động vào là mủn ra. Ngược lại, ở sưu tập Bản Thí, nhiều bộ trang phục ở tình trạng rất tốt. Các chuyên gia nước ngoài cũng đánh giá tình trạng được bảo quản tốt như thế này trên thế giới cũng cực kỳ hiếm có. Hiện nay chỉ có nhóm hiện vật phát hiện ở Tân Cương (Trung Quốc) và Peru nhờ khí hậu khô hạn nên trang phục còn tương đối nguyên vẹn, còn lại ở Việt Nam cũng như khu vực phương Đông nóng ẩm, hiện vật sẽ bị mục nát. Vì vậy, sau 2 năm, nhóm nghiên cứu đã phục hồi được lượng lớn trang phục cổ trong tình trạng gần như nguyên bản.

“Chúng tôi đã cấp cứu được tới 15 áo bằng cách rất cầu kỳ, tỉ mỉ bằng những kỹ thuật phục hồi tranh cổ. Bây giờ chúng ta có thể đo vẽ mẫu tương đối hoàn chỉnh 15 bộ, còn lại là vải”, TS. Nguyễn Việt cho hay.

Kỹ thuật dệt may rất gần với hiện đại

Đại diện nhóm nghiên cứu đến từ Nhật Bản - GS Natsuko Ohara (đại học nữ Chiêu Hòa) cho biết, các nhà khoa học trong nhóm đã khảo sát về chất liệu sợi vải, cách thức dệt, hình dạng trang phục… qua đó tìm hiểu kỹ thuật dệt may, sau đó tiến thêm một bước tìm hiểu về văn hóa, lối sống của những chủ nhân bộ sưu tập. Theo đó, về tạo hình, một số mẫu vật có vẻ giống trang phục thời Minh, thậm chí thời Đường (Trung Quốc), tuy nhiên vẫn có sự khác biệt ở phần xếp ly hoặc phối màu. Mẫu vật “quần lá tọa” cũng có nét giống trang phục kimono Nhật Bản và tương tự quần đàn ông thời Nam Tống. Đặc biệt, các mẫu vật được may bởi các đường kim mũi chỉ cực kỳ đẹp và tinh xảo.

3(1).jpg
TS. Nguyễn Việt giới thiệu cổ phục được phục dựng dựa trên nguyên mẫu trang phục ở Bản Thí.

Về phương thức dệt, 3 mẫu chất liệu cotton với cách dệt trơn giống trang phục kimono, tuy nhiên phần can trên ve áo lại có cách dệt phức tạp hơn, có lẽ để tạo nên phần vải dày nhằm chống rách và thấm mồ hôi tốt hơn. Số mẫu vật còn lại là chất liệu lụa, một số mẫu dệt khá phức tạp, giống như cách dệt lụa vân ngày nay. Đáng chú ý, sợi lụa luôn mảnh hơn lụa Trung Quốc cùng thời và mảnh hơn lụa hiện đại gần 3 lần. Nghiên cứu hóa học cũng cho thấy, trải qua thời gian, các mẫu vật đều có sự co ngót; các amino axit phân tử lớn bị giảm nhiều, gây đứt gãy các mối liên kết…

Nhận định về những chủ nhân của hiện vật, TS. Mai Thanh Sơn khẳng định, đây chắc chắn không phải là trang phục của người Mông, dù mẫu vật được phát hiện trên địa bàn cư trú của họ. Sưu tập này cũng không phải của nhóm người Tày, Nùng, Thái vì các tộc người này không dệt lụa và chỉ dệt trơn (dệt nong mốt).

“Rõ ràng chủ nhân của sưu tập là cư dân nơi khác. Quan trọng nhất đối với khảo cổ không phải là niên đại, không phải là kỹ thuật mà là xác minh chủ nhân. Nhóm nghiên cứu cần phải tìm lời giải cho 3 câu hỏi: Ai làm ra, ai sử dụng và sử dụng vào lúc nào? Ba câu hỏi này rất quan trọng”, ông Sơn nhấn mạnh.

Còn theo TS. Nguyễn Việt, công việc nghiên cứu vẫn đang được tiếp tục. Tháng 6 tới đây, dự kiến những nghiên cứu về sưu tập trang phục Bản Thí sẽ được báo cáo tại một hội nghị khoa học lớn ở Nhật Bản với sự tham gia của nhiều chuyên gia quốc tế. Ở trong nước, dự kiến vào tháng 9/2026, nhóm nghiên cứu sẽ tổ chức họp báo và công bố về sưu tập này. Khi đó, nhóm của ông sẽ cho ra mắt cuốn sách mang tính khoa học cao cấp, chuyển tải những kết quả nghiên cứu của nhóm trong hơn 2 năm cùng những mẫu vật được phục dựng dựa trên nguyên mẫu những trang phục cổ ở Bản Thí.

Xem thêm

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

Nguyễn Khắc Phê và “Quảng Trị, vùng đất hội tụ”

(NB&CL) Giữa tháng 5 năm 2026, tôi tìm trên giá sách riêng, tập hợp được hơn chục tác phẩm của nhà văn, nhà báo Nguyễn Khắc Phê. Cuốn sách xuất bản gần đây nhất in 1500 bản của ông ra mắt đầu năm 2026 có tựa đề “Quảng Trị - Vùng đất hội tụ” (Nhà Xuất bản Hội Nhà văn).

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

Cần những “bà đỡ” từ dòng vốn doanh nghiệp

(NB&CL) Để bảo tàng tư nhân “sống sót” và hoạt động chuyên nghiệp là câu chuyện hoàn toàn không đơn giản. Thực tế tại Việt Nam, không hiếm chuyện chủ nhân bảo tàng rơi vào cảnh “vừa làm chủ, vừa làm nhân viên” vì nguồn lực tài chính hạn hẹp. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Huy (nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, người sáng lập Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên), Nhà nước cần có chính sách để thu hút các nguồn lực tài trợ cho hoạt động bảo tàng, từ đó tạo điểm tựa vững chắc cho các bảo tàng tư nhân phát triển bền vững.

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

Bảo tàng tư nhân góp phần đa dạng văn hóa theo tiêu chí UNESCO

(NB&CL) Với việc trưng bày các hiện vật đến từ nhiều nền văn hóa, nhiều bảo tàng tư nhân đang thực hiện tiêu chí và thông điệp cốt lõi của UNESCO là góp phần thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa các dân tộc, xóa bỏ sự ngăn cách và tệ nạn phân biệt đối xử về văn hóa, tôn vinh các giá trị nhân văn, nhân đạo giữa các dân tộc.

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

Khôi phục thể thức hai vòng đấu tại Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026

(CLO)- Ban tổ chức Lễ hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn năm 2026 vừa chính thức ban hành quy chế sửa đổi với hàng loạt điều chỉnh quan trọng. Việc khôi phục trọn vẹn thể thức hai vòng đấu sau nhiều năm gián đoạn cùng những thay đổi bước ngoặt trong luật phân định thắng thua là những điểm mới cốt lõi nhằm nâng cao tính minh bạch và chất lượng chuyên môn cho di sản văn hóa phi vật thể quốc gia này.

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

Vì sao thanh niên Khmer phải vào chùa tu trước khi trưởng thành?

(CLO) Với người Khmer Nam Bộ, việc vào chùa tu học không đơn thuần là thực hành tín ngưỡng mà còn là cách báo hiếu cha mẹ, rèn luyện đạo đức và đánh dấu bước trưởng thành của một người đàn ông trước khi bước vào cuộc sống gia đình, xã hội.

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

Kết nối làng nghề và sáng tạo để đánh thức nguồn lực di sản

(CLO) Chương trình Phát triển thủ công đương đại trên nền tảng Di sản làng nghề trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026 được khởi động với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái kết nối giữa nghệ nhân, nhà thiết kế, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, góp phần đưa nguồn lực di sản trở thành động lực cho sáng tạo và phát triển bền vững.

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

VTV lần đầu thực hiện truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã

(CLO) Lần đầu tiên, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) triển khai dự án truyền hình trực tiếp về thiên nhiên hoang dã mang tên “Vietnam Wild Live - Kết nối thiên nhiên, lan tỏa nhận thức”, đưa những hình ảnh chân thực của hệ sinh thái tự nhiên đến với khán giả trong và ngoài nước.

Cỡ chữ bài viết: