40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là dấu mốc quan trọng thể hiện bước chuyển căn bản trong tư duy phát triển, đưa khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trở thành động lực thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Vì sao Việt Nam phải thay đổi tư duy về FDI

Suốt gần bốn thập niên mở cửa, đầu tư nước ngoài đã mang lại cho Việt Nam nguồn vốn lớn, tạo hàng triệu việc làm và đóng góp quan trọng cho xuất khẩu cũng như tăng trưởng kinh tế. Khu vực kinh tế FDI đã đóng góp lớn cho tăng trưởng, xuất khẩu, công nghiệp hóa, việc làm và tiếp nhận công nghệ. Tuy nhiên, nhiều hạn chế cũng được chỉ rõ như tỷ lệ nội địa hóa thấp, liên kết với doanh nghiệp trong nước còn yếu, chuyển giao công nghệ và nghiên cứu và phát triển (R&D) chưa đạt kỳ vọng; nhiều dự án vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp, sử dụng lao động phổ thông, đất đai và năng lượng giá rẻ, chưa tạo được năng lực mới cho nền kinh tế.

Những nhận định ấy trùng với đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế. Tại Diễn đàn Đối thoại Chiến lược 2026, các chuyên gia từ Đại học Columbia, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN cho rằng mô hình FDI của Việt Nam đang tiến gần tới giới hạn. Phần lớn doanh nghiệp nước ngoài vẫn tập trung ở công đoạn lắp ráp, gia công có giá trị gia tăng thấp; hoạt động R&D tại Việt Nam còn mỏng; doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước mới cung ứng khoảng một phần tư đầu vào cho khu vực FDI.

Phó Tổng Thư ký OECD Yasushi Masaki chỉ rõ doanh nghiệp FDI chiếm chưa tới 3% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, nhưng tạo ra hơn một phần tư việc làm và gần một phần ba giá trị gia tăng. Đó là thành công lớn của quá trình mở cửa. Nhưng cũng chính sự chênh lệch ấy cho thấy mô hình hiện nay đã đến lúc phải nâng cấp. “Việt Nam không chỉ cần thêm FDI, mà cần FDI có chất lượng cao hơn, gắn chặt hơn với doanh nghiệp trong nước, tạo nhiều tri thức, kỹ năng, công nghệ và giá trị gia tăng hơn cho nền kinh tế Việt Nam”, ông Yasushi Masaki nói.

Nhìn từ những dữ liệu và đánh giá trên, có thể thấy sau gần bốn thập kỷ mở cửa, Việt Nam đã hình thành hai khu vực kinh tế cùng phát triển nhưng chưa thật sự gắn kết. Một bên là khu vực FDI ngày càng hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, mở rộng từ sản xuất sang logistics, phân phối và bán lẻ, đồng thời tạo ra phần lớn kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bên kia là cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, phần lớn vẫn có quy mô nhỏ, năng lực công nghệ hạn chế và chủ yếu tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp. Khoảng cách giữa hai khu vực ấy, hơn bất kỳ con số FDI nào, mới là bài toán mà Nghị quyết 10 hướng tới.

202901-fdi-1.jpg
FDI thế hệ mới: Chuyển từ thu hút vốn sang kiến tạo năng lực tự chủ của nền kinh tế. Ảnh: TTXVN

FDI thế hệ mới: Từ thu hút vốn sang kiến tạo năng lực tự chủ của nền kinh tế

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy thu hút FDI theo hướng lựa chọn dòng vốn chất lượng cao, có công nghệ, có liên kết, có trách nhiệm và có sức lan tỏa đối với nền kinh tế trong nước. Đây không chỉ là định hướng thu hút FDI, mà còn là yêu cầu nâng cấp năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. Giờ đây, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là Việt Nam thu hút được bao nhiêu vốn, bao nhiêu dự án, bao nhiêu lao động, mà là dòng vốn đó mang lại công nghệ gì, tạo giá trị gia tăng bao nhiêu, doanh nghiệp Việt Nam tham gia được đến đâu và năng lực tự chủ của nền kinh tế được nâng lên như thế nào.

Theo nhận định của các chuyên gia, đó cũng là điểm mới có ý nghĩa chiến lược của Nghị quyết số 10-NQ/TW, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tiếp theo. Nghị quyết khẳng định vai trò của FDI về lượng, nhưng tập trung đặt trọng tâm vào chất. Từ tư duy “mở cửa để thu hút vốn”, Việt Nam chuyển sang tư duy “lựa chọn, sàng lọc và đồng kiến tạo giá trị”. FDI không chỉ là nguồn vốn bổ sung, mà phải trở thành động lực thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp trong nước.

Thực tiễn 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy, sức hấp dẫn của Việt Nam vẫn rất lớn. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ; vốn FDI thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2%, mức cao nhất của 6 tháng đầu năm trong 5 năm gần đây. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực chủ lực, phản ánh vai trò của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất khu vực và toàn cầu. Những con số này là tín hiệu tích cực, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt, chuỗi cung ứng quốc tế tái cấu trúc, các nền kinh tế đều tìm cách giành dòng vốn công nghệ cao. Việt Nam có lợi thế về ổn định chính trị, vị trí địa kinh tế, quy mô thị trường, hội nhập sâu rộng và triển vọng tăng trưởng.

Trong xu thế này, các chuyên gia lưu ý rằng chính khi FDI tăng nhanh, yêu cầu quản trị chất lượng dòng vốn càng phải được đặt ra nghiêm túc hơn. Nếu FDI tăng về quy mô nhưng liên kết với doanh nghiệp trong nước còn mỏng, chuyển giao công nghệ hạn chế, tỷ lệ nội địa hóa thấp, lao động chủ yếu ở khâu gia công, thì nền kinh tế có thể lớn lên về sản lượng nhưng chậm trưởng thành về năng lực.

fdi-moi.jpg
Ảnh: TL

Khi đó, Việt Nam có thể xuất khẩu nhiều hơn, nhưng giá trị giữ lại trong nước chưa tương xứng; công nghiệp phát triển nhanh hơn, nhưng doanh nghiệp nội địa vẫn đứng ngoài các khâu có giá trị cao. Vì vậy, phát triển FDI thế hệ mới phải gắn với mục tiêu nâng cấp mô hình tăng trưởng. Dự án FDI tốt không chỉ là dự án vốn lớn, mà là dự án tạo ra công nghệ mới, kỹ năng mới, chuẩn quản trị mới, thị trường mới và cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam.

Điểm đáng chú ý là Nghị quyết không dừng ở định hướng chung mà đặt ra những thước đo cụ thể. Đến năm 2030, tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực được phấn đấu đạt 45-50%; khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; tỷ lệ lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động đạt khoảng 80%. Tới đây, thay vì cạnh tranh thu hút bằng giá thuê đất rẻ hay ưu đãi thuế nhiều hơn, các địa phương sẽ phải cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, môi trường đầu tư minh bạch và năng lực quản trị. Khi xác định chuyển từ tư duy “thu hút đầu tư nước ngoài” sang tư duy “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, chúng ta sẽ có cơ hội biến những dòng vốn FDI thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của chính nền kinh tế.

Và kỳ vọng Nghị quyết số 10-NQ/TW khi đi vào cuộc sống sẽ là cú hích lớn để ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt trưởng thành trong chuỗi cung ứng toàn cầu, nhiều công nghệ được làm chủ hơn và nhiều người lao động Việt đảm nhận những vị trí có giá trị cao hơn. FDI sẽ không còn là một khu vực phát triển song song với nền kinh tế, mà thực sự trở thành một phần của sức mạnh nội sinh, góp phần đưa Việt Nam tiến nhanh hơn trên con đường phát triển bền vững.

Xem thêm

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

Cốt lõi trong bảo vệ bản sắc dân tộc số

(NB&CL) Trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam, văn hóa luôn là cội rễ và là “vũ khí mềm” đặc biệt để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc trước các thế lực xâm lăng. Khi chiến tranh không còn là tiếng súng, mà là cuộc chiến về thông tin, giá trị và biểu tượng, thì văn hóa trở thành tuyến phòng thủ chiến lược. Không gian mạng – một thực thể phi vật lý nhưng có sức ảnh hưởng sâu rộng – đang trở thành mặt trận mới của cuộc đấu tranh giữ nước bằng văn hóa. Trong môi trường đó, việc bảo vệ chủ quyền văn hóa trở nên cấp thiết không kém gì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chủ quyền văn hóa trên không gian mạng chính là quyền làm chủ thông tin, giá trị, bản sắc và tâm hồn dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

Khi hiệu quả của chính quyền được đo bằng chất lượng phục vụ và mức độ thụ hưởng của người dân

(NB&CL) Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều được đánh dấu bằng những quyết sách mang tính mở đường. Có những quyết sách làm thay đổi cách tổ chức nền kinh tế, có những quyết sách tạo nên bước ngoặt về thể chế và phương thức quản trị. Nhưng cũng có những quyết sách không khởi đầu bằng những công trình quy mô lớn hay mục tiêu tăng trưởng cao, mà bắt đầu từ một câu hỏi rất giản dị: sau tất cả những đổi thay, người dân sẽ sống tốt hơn như thế nào?

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

Nhà nước pháp quyền không có chỗ cho 'quyền lực ảo' phán xét

(CLO) Một đoạn video chưa đầy một phút. Một dòng trạng thái được chia sẻ hàng nghìn lần. Chỉ sau vài giờ, một con người có thể bị quy kết, bị tẩy chay và bị kết án bởi hàng vạn bình luận, ngay cả khi cơ quan có thẩm quyền còn chưa bắt đầu xác minh sự việc.

Cỡ chữ bài viết: